Thứ Bảy, 5 tháng 5, 2018

CHƯƠNG I: 1818 - 1843. Phần 2


2. ANH SINH VIÊN Ở BON

       Vào giữa tháng mười 1835, Các Mác rời thành phố Tơ-ria, xuôi dòng sông Ranh và Mô-den bằng tầu thủy, đi Bon. Theo ý muốn của cha, Mác phải nghiên cứu luật học ở đó.
Thành phố Bon to hơn Tơ-ria một ít. Cuộc sống ở đây hoàn toàn do trường Đại học tổng hợp với 700 sinh viên của nó chi phối. Trường Đại học tổng hợp đã làm cho Bon trở thành trung tâm tinh thần của tỉnh Ranh nước Phổ, nhưng đã có những bóng đen u ám bao phủ lên đời sống tinh thần ở Bon, cũng như trên toàn nước Đức.
       Nếu vào đầu những năm 30, cuộc cách mạng tháng Bảy ở Pa-ri đã khơi dậy trong nhân dân Đức những niềm hy vọng mới là sự thống trị phong kiến sắp kết thúc, thì chẳng bao lâu sau đó, những ước mơ này đã phải tiêu tan. Và mặc dầu ở vương quốc Xắc-xơn, ở đại công quốc Ghéc-xen, ở công quốc Bơ-ra-un-sơ-vich và những nơi khác, tình hình đã tiến tới khởi nghĩa vũ trang, trong đó có cả những người tiểu tư sản, nông dân và sinh viên, và đặc biệt là nhiều thợ học việc tham gia; mặc dầu trong nhiều cuộc biểu tình, trước hết trong cuộc biểu tình ngày 27 tháng Năm 1832 ở lâu đâì Hăm-bắc tại Pơ-phan-xơ, các đại biểu của giai cấp tư sản tiến bộ đã đòi phải có “một Tổ quốc Đức tự do”, song phong trào này vẫn tản mạn và không có một sự lãnh đạo kiên quyết và tập trung. Bọn phản động lại truy nã tất cả những tất cả những gì tỏ ra có xu hướng tiến bộ và tự do. Hàng ngàn người dân chủ trung thực bị bắt vào tù hoặc bị trục xuất ra khỏi đất nước. Chế độ kiểm duyệt ngày càng ngặt nghèo hơn, mọi cuộc hội họp của quần chúng đều bị cấm đoán, những người đeo quân hiệu đen – đỏ - vàng – tượng trưng cho nền cộng hòa dân chủ - đều bị trừng phạt theo pháp luật. Các Nhà nước trong Liên bang Đức nhận trao trả cho nhau tất cả những người cư trú chính trị; số lượng báo chí bị hạn chế, tất cả mọi tổ chức chính trị đều bị cấm. Các sinh viên tiến bộ, các đoàn viên thanh niên lên tiếng đòi cải cách dân chủ và thống nhất quốc gia Đức, đều bị theo dõi, đánh đập và bị bắt giam.
       Khi Mác đến Bon thì các vụ lùng sục và theo dõi của cảnh sát đang sôi động. Thay vào đoàn thanh tiên là các tổ chức sinh viên trung lập về chính trị gọi là các hội đồng hương, gồm toàn sinh viên cùng một đia phương. Mác gia nhập hội đồng hương của mình, và đến học kỳ sau thì được bầu vào chủ tịch đoàn của hội đồng hương Tơ-ria.
       Mác bắt tay vào học tập rất hăng say. Anh sinh viên ấy ghi tên nghe giảng đến chín môn, chủ yếu về những vấn đề luật học và cả văn học, lịch sử, nghệ thuật và văn hóa, đến nỗi bố phải cho anh: “Theo ý cha thì chín môn hơi nhiều đấy. Cha muốn là con đừng học quá sức chịu đựng của mình về tinh thần và thể xác. Nhưng nếu con thấy như vậy không vất vả quá thì cũng được. Biển học thì mênh mông, mà thời gian thì có hạn”.[1]
       Mác không thấy khó. Nhưng chẳng bao lâu Mác hiểu là phần lớn những khóa học này không đáp ứng yêu cầu của Mác. Vì thế, Mác ít đi nghe giảng hơn và bắt đầu học theo chương trình của mình định ra. Và sau này, ở Béc-lin, cách học đó đã trở thành phương pháp học tập căn bản của Mác.
       Qua thư từ của bố, người ta thấy rõ anh sinh viên trẻ tuổi này hoàn toàn không phải là một con mọt sách. Cuộc sống ở Bon giàu màu sắc, hình vẻ lãng mạn đọc đáo, đến nỗi Mác cũng bị cuốn vào cơn xoáy lốc đó. Trong cuộc đời sinh viên, đôi khi cũng có những chất men say vui vẻ. Mác, cũng như những người quê ở thung lũng Mô-den, không phải là người tuyệt đối không uống rượu. Thí dụ, vào tháng Sáu 1836 Mác đã bị ban giám hiệu phạt giam một ngày vì say rượu và phá rối yên tĩnh ban đêm. Thực ra, sự trừng phát đó không có gì là quá nghiên khắc, bởi vì các bạn vẫn được vào thăm, và do đó cuộc vui vẫn cứ tiếp tục ngay cả ở trong phòng giam. Tất nhiên, cuộc đời sinh viên không phải có hát hò và tiệc tùng. Không phải tất cả ác sinh viên xuất thân từ môi trường tư sản đều ngoan ngoãn chịu đựng mọi sự hoạnh họe của bọn cảnh sát và sự kênh kiệu của các sinh viên quý tộc. Nhiều người đã phản kháng, họ đáp lại sự thô bạo của con cái bọn đại địa chủ quý tốc bằng sự nhạo báng, đôi khi bằng qua đấm hay thanh gươm. Anh thanh niên Mác cũng thuộc số người như vậy. Mác không những chỉ gia nhập nhóm các nhà thơ trẻ - mà ở đây chắc chắn còn có những mục đích chính trị ẩn sau những hoài bão văn học – mà còn đấu súng, hình như với một tên thuộc dòng dói quý tộc nào đó, vào tháng Tám 1836.
       Ông bố lo lắng về tình hình đó và đã báo cho ban giám hiệu trường Đại học tổng hợp là con trai ông sẽ học tiếp ở Béc-lin, ngay từ khi Mác chưa học hết năm thứ nhất ở Bon.

3. CHINH PHỤC TRÁI TIM CÔ GÁI KHÁC THƯỜNG

       Nếu vào năm 1835 anh thanh niên đang chuẩn bị làm sinh viên, tò mò và nóng lòng chờ đợi một cuộc sống mới, tự lập ở Bon, không xa thành phố quê hương bao nhiêu, thì bây giờ trước chuyến đi Béc-lin, mọi sự lại khác hẳn. Lần này, việc từ biệt thành Tơ-ria đối với Mác rất nặng nề, bởi vì Mác phải xa cách lâu dài con người mà Mác yêu thương với tất cả tâm hồn.
       Tình bạn và cảm tình giữa Mác và Gien-ni phôn Vét-pha-len đã ngày càng trở nên đậm đà và chuyển thành tình yêu sâu sắc. Gien-ni không những có một sắc đẹp tuyệt vời, mà còn có một bản lĩnh và trí óc thông minh khác thường. Cuối mùa hạ năm 1836, khi còn ở nhà bố mẹ, Mác đã cầu hôn với người yêu. Gien-ni hứa hôn với Mác. Khi đó Mác vừa mười tám. Đối với quan điểm đạo đức thời bấy giờ thì việc này thật là lạ, chưa từng có. Một cô gái quý tộc trẻ trung, “nữ hoàng của các vũ hội”, người đẹp nhất thành Tơ-ria, có rất nhiều chàng trai theo đuổi và có khả năng lấy được “một đám khá giả”, thế mà lại dám hành động trái với mọi khái niệm cổ truyền của xã hội phong kiến và tư sản, đem gửi gắm tấm thân cho con trai một nhà tư sản mà không cho bố mẹ biết, cũng không hề đắn đo suy nghĩ về cái gì sẽ đến với cô trong cuộc sống tương lai bên cạnh Mác, Mác và Gien-ni cũng tự cảm thấy – trong niềm hạnh phúc chứa chan – là hành động của mình thật khác thường. Bởi vì hiện giờ, Mác chưa thể nghĩ đến chuyện nói chính thức với vị cố vấn chính phủ Phôn Vét-pha-len về việc cầu hôn Gien-ni. Vì thế, lúc đầu chỉ có cho Mác biết việc này. Hai cha con tin rằng ông Hen-rich Mác sẽ chuẩn bị được tinh thần cho bố mẹ Mác để hai ông bà tán thành việc hai trẻ kết hôn.
       Ông Hen-rich Mác đã làm được việc đó, tin tưởng ở tình yêu nghiêm túc của hai con và bản tính mạnh mẽ của Mác. Được cha mẹ đồng ý, Gien-ni cảm htaays như trút được gánh nặng đã trĩu trong lòng, nhưng dầu vậy, bảy năm xa cách đằng đẵng và chung thủy đợi chờ, không phải dễ dàng đối với đôi bạn tình. Hơn nữa, người anh khác mẹ của Gien-ni, Phéc-đi-năng phôn Vét-pha-len, một kẻ rất mực hám danh, sau này trở thành bộ trưởng Bộ Nội vụ Phổ, vẫn thường xuyên biến cuộc sống của nàng thành địa ngục.

4. CUỘC ĐỌ SỨC VỚI "TRIẾT HỌC THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI”

       Các Mác đi Béc-lin vào tháng Mười 1836, Mác đi mất năm ngày trên một chiếc xe ngựa chở thư: đường xe lửa bấy giờ còn chưa có. Nhưng việc đi lại đã dễ hơn mấy năm trước nhiều. Những vụ khám xét của thuế quan trước kia khiến cho du khách mất biết bao thì giờ, bực bội và phải dốc nhẹ túi tiền, thì nay hâu như không còn xảy ra nữa. Liên đoàn thuế quan Đức, thành lập năm 1834 dưới quyền lãnh đạo của nước Phổ, đã phá bỏ các hàng rào thuế quan giữa các quốc gia Đức riêng biệt. Nhưng biết bao tòa nhà của các sở thuế quan còn đứng sừng sững kia, tự như nhắc nhở rằng tình trạng bị chia sẻ về chính trị của nước Đức còn chưa khắc phục được. Nền công nghiệp ở nước Đức không thể phát triển và mở rộng một cách tự do, nếu không có một hệ thống giao thông thống nhất, không có một thị trường thống nhất. Giai cấp tư sản muốn xây dựng những nhà máy mới, muốn nhận nguyên liệu và sức lao động, muốn bán hàng hóa để tăng lợi nhuận mà không bị các biên giới trên nội địa nước Đức cản trở. Vì thế, giai cấp tư sản đã đấu tranh chống tình trạng phân chia của nước Đức và chống các đặc quyền phong kiến. Giai cấp tư sản, vì lợi ích của bản thân, cần một thị trường quốc gia thống nhất, cố phấn đấu để thống nhất nước Đức.
       Mác tới Béc-lin với ý định dứt khoát là phải kiên trì học tập và làm việc. Ở đây ngự trị một không khí khác hẳn. Bon là một thành phố nhỏ, còn Béc-lin thì có hơn 300.000 người; trường Đại học tổng hợp Bon có gần 700 sinh viên, còn trường Béc-lin đông gấp ba. Ở Bon, trường Đại học tổng hợp quyết định cuộc sống và bộ mặt thành phố, còn ở Béc-lin thì là triều đình và chế độ quân phiệt Phổ. Ở Bon, hầu như không có sinh viên nào tránh được những tiệc rượu nhỏ hàng ngày, còn ở Béc-lin thì có thể mặc sức học tập, tránh được mọi sự ồn ào phiền nhiễu. “So với ngôi nhà lao động ở đây thì các trường Đại học tổng hợp khác giống hệt những quán rượu”[2], đó là ý kiến của nhà triết học Lút-vich Phơ-bách về trường đại học tổng hợp Béc-lin. Ở Béc-lin không có những hội đồng hương, hoặc những đoàn thể sinh viên khác; những tổ chức này bị nhà vua cấm.
       Thủ đô nước Phổ khác với thành phố trên bờ sông Ranh cả về quan hệ kinh tế. Mặc dầu ở Béc-lin sản xuất tiểu thủ công còn chiếm ưu thế, song nền công nghiệp tư bản chủ nghĩa đã bắt đầu phát triển vững chắc ở đây, chủ yếu là ở ngoại ô thành phố. Trong vài chục năm nó thay đổi hoàn toàn tính chất của thành phố vốn là đại bản doanh và thủ đô của bọn đại địa chủ quý tốc: cùng với sự giàu có của tư bản mới là nạn nghèo đói khủng khiếp mới ngày càng tăng với nhịp độ nhanh hơn; cùng với giai cấp tư sản công nghiệp trẻ tuổi, ở Đức phải hình thành một giai cấp mới – giai cấp vô sản. ở Anh và Pháp giai cấp vô sản đã hoạt động độc lập.
       Nhưng thế lục phản động phong kiến vẫn còn thống trị, vì thế trước hết phải giải nước Đức khỏi những mối liên hệ phong kiến.
       Ở Đức, các cuộc cải cách tư sản cần thiết, được thực hiện trong hoàn cảnh rất phức tạp. trái với nước Anh và nước Pháp, là những nước đã tồn tại từ lâu như những quốc gia thống nhất và ở đó đã có thị trường quốc gia, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ở Đức hình thành hết sức chậm. Điều đó trước hết là do tình trạng chia sẻ đất đai chi phối, và vì vậy các quan điểm chính trị của giai cấp tư sản Đức không đồng nhất – gọi là chủ nghĩa tự do – và các hoạt động chính trị của nó cũng không triệt để. Nếu trước những năm 30 của thế kỷ XĨ, giai cấp tư sản Đức còn chưa trưởng thành và chưa đủ sức mạnh đẻ tiêu diệt chế độ phong kiến về mặt chính trị, thì dầu sao nó cũng đã chuẩn bị cho cuộc cách mạng tư sản về mặt tư tưởng. Vấn đề này được biểu hiện trong văn học cổ điển Đức, và trước hết trong triết học cổ điển cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX. Những người đại diện của giai cấp tư sản đã hướng vũ khí phê bình, nhất là trong lĩnh vực tôn giáo, vào chính ngay kẻ thù mà giai cấp tư sản đấu tranh trong lĩnh vực chính trị, tức là ào giai cấp quý tộc phong kiến đần độn và thiển cận.
       Tất nhiên “cuộc cách mạng triết học” này vấp phải sức phản kháng mãnh liệt nhất của ccs nhà tư tưởng thuộc chế độ phong kiến. Tư tưởng và tác phẩm của những người đại diện xuất sắc nhất của triết học cổ điển Đức – Im-ma-nu-in Căng, I. Ô-gan-Gốt-líp Phi-xte, Ghê-oócs Vin-hem Phơ-ri-đơ-rich Hê-ghen và Lút-vich Phơ-bác – tất nhiên không những chỉ phản ánh mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản đang lên và trật tự phong kiến đã lỗi thời, mà còn phản ánh cả tính chất không triệt để về chính trị của giai cấp tư bản Đức còn non trẻ. Nhưng dầu sao những tư tưởng và tác phẩm ấy cũng đã mở đường cho cuộc cải cách tư sản ở Đức.
       Vào thời kỳ anh thanh niên Mác tới Bén-lin thì Căng và Phi-xte đã chết từ lâu, Hê-ghen cũng không còn nữa, nhưng những tư tưởng của họ nhất là của Hê-ghen hãy còn thống trị trong giới trí thức Đức. Trường Đại học tổng hợp Béc-lin là trung tâm các cuộc tranh luận về tư tưởng. Hê-ghen đã dạy ở đây từ năm 1818 đến năm 1831. Và bây giờ, vào giữa những năm 30, các môn đệ của ông còn đang lãnh đạo nhiều bộ môn.
       Ngày 22 tháng 10 năm 1836, Mác ghi tên vào học khoa luật. Mác hỏi kỹ về các bài giảng và tìm chỗ ở gần trường Đại học, tại số nhà 61, phố Mít-ten. Sau khi làm tròn nghĩa vụ đi thăm một số ban bè của bố một cách miễn cưỡng, Mác bắt tay vào học tập với một nghị lực lớn lao. Mác ghi tên nghe ba khóa trình: luật hình, lịch sử luật La-mã và nhân chủng học. Ngay từ khi mới bắt đầu học ở Béc-lin, Mác đã tập trung vào việc tự nghiên cứu các sách chuyên môn và các nguồn tài liệu. Phương pháp làm việc như vậy có hiệu quả đến mức những năm sau, Mác hầu như không đi nghe giảng nữa.
Chỉ ít lâu sau, việc nghiên cứu luật đã bị đẩy xuống hàng thứ yếu so với việc học triết. “Tôi buộc phải nghiên cứu luật học, và trước hết thấy muốn thử sức mình trong triết học”[3]. Mác đã viết về thời kỳ này như vậy. Thật thế, bây giờ anh sinh viên Mác bắt đầu tìm tỏi ráo riết thế giới quan nào có thể làm cơ sở vững chắc cho cả các công trình nghiên cứu khoa học, cả các chính kiến của anh.
       Nhưng lúc đầu, như anh đã viết cho bố, trạng thái tâm hồn bị xáo động bởi những nỗi hồi hộp “của tình yêu… say đắm” đã khiến anh không thể hiến mình trọng vẹn cho việc học tập khoa học. Như Mác đã thú nhận với bố, xa quên hương và xa “Gien-ni tuyệt diệu” của mình. Mác cảm thấy “lo lắng thật sự”[4]. Không phải tính ghen tuông làm cho Mác khổ sở: Mác không hề nghi ngò tình yêu của Gien-ni. Nhưng chỉ có một ý nghĩ về những năm dài trước mắt phải xa cách Gien-ni cũng đã như là hòn đá tảng đè nặng lên trái tim Mác.
       Và anh thanh niên Mác đã làm cái việc thông thường của các chàng trai đang yêu là làm thơ, trong đó Mác cố miêu tả tình cảm và tâm trạng của mình. Những bài thơ ấy đã chứng tỏ hồi ấy Mác say mê thơ ca dân gian Đức và có làm quen với thơ ca của Hen-tich Hai-nơ và A. Đe-be phôn Sa-mit-xô. Phần lớn các bài thơ Mác đều viết về Gien-ni, về nỗi buồn nhớ Gien-ni, nhưng cũng có không ít bài biêu tả thế giới tinh thần và khát vọng hành động của Mác:

Nào chúng ta lên đường
Tuy đường xa gian khổ
Để đừng sống lắt lay
Vô vị đời cỏ cây
Không thể sống bê tha
Trong biếng lười nhục nhã
Hùng mạnh thay con người
Đầy ước mơ gan dạ.[5]

       Mác nhận thấy ngay là các bài thơ đầu tay của mình chẳng có giá trị văn học gì cho lắm và trước hết, đó là một hình thức tự nhận thức bản thân. Mác viết cho bố: “Chúng ta vãn muốn xây đài kỷ niệm cho những gì đã từng sống qua một lần để cho nó lại có được trong tình cảm của ta cái vị trí mà nó đã mất trong khi diễn ra thành hành động”[6]. Nhưng thả mình trong tình cảm và ước mơ, không phải là công việc dành cho Mác. Mác ham muốn hành động và hành động tích cực.
Mác viết “trước hết thẩy muốn thử sức mình trong triết học”[7].
       Thật vậy, giữ lời hứa với bố, Mác đã nghiên cứu luật học, và chỉ trong học kỳ đầu đã đọc hết một núi sách chuyên môn, vượt quá chương trình đã định rất nhiều. Song, Mác không hài lòng với việc tiếp thu những sự việc và luận cứ riêng biệt. Mác thú thực với bố rằng không có triết học, Mác không thể tiến lên được. Nhưng triết học đó phải như thế nào.
       Do nền giáo dục và học vấn đã hấp thu, Mác là một người duy tâm về quan điểm triết học, chịu ảnh hưởng trước hết của Căng và Phi-xte, và cả quan điểm của các nhà khai sáng Pháp Von-te và Rút-xô. Lúc đầu, Mác đã dùng quan điểm của mình lúc bấy giờ để xem xét tất cả các điều của luật học và mất khá nhiều công sức để xây dựng một hệ thống triết học pháp quyền; song chẳng bao lâu Mác lại bác bỏ nhữn lý luận của chính mình, vì lý luận đó không đứng vững sau khi được kiểm tra phê phán. Điều đó xẩ ra không phải chỉ có một lần. Đồng thời, Mác lại xem xét lại tất cả những vấn đề triết học quan trọng nhất một cách có phê phán. Và cư thế mà làm đi làm lại từ đầu. Mác cứ kiểm tra đi kiểm tra lại dòng tư tưởng của mình và kết quả thu được, tư phê phán một cách không thương xót. Và càng ngày Mác càng nhận thức rõ hơn khuôn khổ chật hẹp và tính chất không khoa học của chủ nghĩa duy tâm chủ quan cho rằng thế giới tồn tại không khách quan mà chỉ là sản phẩm của bản thân ý thức. Chẳng bao lâu Mác bắt đầu hiểu, như đã viết cho bố là “sự việc hoàn toàn khác trong biểu hiện cụ thẻ của thế giới tư tưởng sinh động, như luật pháp, Nhà nước, giới tự nhiên, toàn bộ triết học: ở đây, cần phải xem xét kỹ bản thân khách thể trong sự phát triển của nó và không thể có sự phân chia một cách tùy tiện nào, ở đây lý tính của chính sự vật phải được giải thích như một cái gì mâu thuẫn trong bản thân nó, đồng thời trong bản thân sự vật lại có sự thống nhất của nó”[8]. Những ý niệm này là của Hê-ghen. “Từ chủ nghĩa duy tâm, cần nói thêm là co sánh với chủ nghĩa duy tâm của Căng và Phi-xte, trong khi tiếp thu nó từ cái nguồn này - con đã chuyển sang tìm tư tưởng ở ngay chính trong thực tiễn. Nếu trước kia các thánh thần sống ở trên trời, thì nay các thánh thần trở thành trung tâm của Trái Đất”[9]. Mác tự thú nhận như vậy trong bức thư gửi cho bố độc nhất còn giữ lại được những năm đó – đề ngày mồng 10 tháng Mười một 1837.
       Nếu lúc đầu Mác không đồng ý với Hê-ghen, thì bây giờ Mác trở thành môn đồ của Hê-ghen. Anh sinh viên 19 tuổi đã biết nhìn thấy điều chủ yếu trong triết học của ông thầy mình là phương pháp biện chứng. “… Các mối liên hệ càng ngày càng chắc hơn, buộc chính con với triết học thế giới hiện đại”[10], Mác viết cho bố như vậy và xác định bước chuyển sang lập trường của Hê-ghen là một bước ngoặt trong cuộc đời mình. Đây thực là một nhận định đáng phục, vì trên thực tế, bước chuyển này đã trở thành điểm xuất phát của việc xây dựng chủ nghĩa cộng sản khoa học.
       Mác kích thích cả các giảng viên trường Đại học tổng hợp nghiên cứu triết học Hê-ghen. Nhưng cái chính đã lôi cuốn Mác đến với Hê-ghen là cuộc tranh luận say sưa về các vấn đề lý luận và chính trị đương thời. Ước vọng của Mác muốn phối hợp những quan điểm triết học của bản thân với thực tiễn, với lịch sử và với hiện trạng của nhân loại, phù hợp với quan niệm của Hê-ghen.
       Trước Hê-ghen, trong lịch sử tư tưởng của nhân loại chưa hề có một người nào định chứng minh mối liện hệ nội tại và sự phát triển theo quy luật lịch sử, với mức độ rộng lớn và sâu sắc như vậy. Thật ra, Hê-ghen – vốn là một người duy tâm – nhìn thấy cơ sở của mọi việc xảy ra ở trong sự phát triển của các tư tưởng, hoặc như ông nói, của “tư tưởng tuyệt đối”. Còn thế giới vật chất thì ông chỉ xem như một loại phản ánh của tư tưởng này. Nhưng Hê-ghen là một người duy tâm khách quan, ông xuất phát từ nguồn gốc tinh thần “khách quan” của thế giới, nguồn gốc này không phụ thuộc vào ý thức của con người. Theo ý kiến ông, tinh thần ở trong một quá trình phát triển liên tục và thúc đẩy lịch sự tiến lên từ thấp đến cao, từ giai đoạn này đến gian đoạn khác, tuần tự và nhảy vọt. Những giai đoạn quá độ đã vượt qua về mặt lịch sử của sự phát triển tinh thần và việc thực hiện quá trình phát triển đó trong lịch sử loài người sẽ mất quyền tồn tại và rời khỏi sân khấu, nhường chỗ cho một thực tiễn mới có khả năng sống, đến thay thế theo quy luật, một thực tiễn được tư tưởng phê chuẩn là hợp lý, do đó, là cần thiết. Quá trình biến đổi và phát triển thường xuyên này gọi là biện chứng, cuối cùng đã thu được – theo Hê-ghen – biểu hiện cao nhất của mình và kết thúc ở giai đoạn mà tư tưởng đạt đến mức tự nhận thức, do đó cũng kết thúc ở trong khuôn khổ của chế độ trong đó tư tưởng tự nhận thức mình. Nghĩa là vấn đề đang được nói tới ở đây là triết học Hê-ghen và thời đại của ông.
       Một ý đồ triết học đồ sộ như vậy, định thăm dò và chi ra phương hướng phát triển cơ bản trong mọi lĩnh vực của lịch sử loài người, nhất là trong lĩnh vực tư duy, bằng phương pháp biện chứng, đã có ảnh hưởng lớn lao, và dĩ nhiên là một thành tựu lịch sử vĩ đại. Nhưng triết học của Hê-ghen cũng đầy rẫy mâu thuẫn. Trước hết, nó được xác định bởi mâu thuẫn giữa một bên là phương pháp biện chứng mà Hê-ghen áp dụng một cách có ý thức, một phương pháp biện chứng không thừa nhận bất cứ một tình trạng đình trệ nào, không thừa nhận bất cứ một chân lý nào gọi là tuyệt đối, với một bên là sự hoàn thành có tính chất ngẫu nhiên của quá trình phát triển tinh thần, trái ngược với phép biện, mà Hê-ghen cũng đã djwa vào luận điểm sau này mà bào chữa cho sự tồn tại của Nhà nước Phổ lúc bấy giờ. Như thế nghĩa là về tính chất triết học, Hê-ghen không những duy tâm mà còn bảo thủ - mặc dù phương pháp biện chứng của ông là cách mạng.
       Chính vì học thuyết của Hê-ghen có tính chất mâu thuẫn như vậy, cho nên nó đã cho phép những người có quan điểm triết học và chính trị rất khác nhau có thể dựa vào nó mà dẫn chứng. Người nào coi cái điều Hê-ghen ca tụng Nhà nước Phổ như “sự thể hiện của tư tưởng tuyệt đối” là chủ yếu, có thể là một người bảo thủ, nhưng xét về mục đích chính trị thì đó là một tên phản động. Người nào nhìn thấy cái cơ bản ở trong phương pháp biện chứng của Hê-ghen thì người đó có thể, thậm chí phải là ở phía đối lập với hệ tư tưởng phong kiến, đối lập với tôn giáo và chế độ chính trị.
       Sự việc đã xẩy ra đúng như vậy. Mâu thuẫn giữ người tự xưng là học trò của Hê-ghen đã bộc lộ công khai vào cuối những năm 30. Bắt đầu một cuộc tranh luận gay gắt giữa phái gọi là những người Hê-ghen già, gồm cánh giáo điều – phản động, với những người Hê-ghen trẻ, là những nhà tư tưởng cách mạng trong số học trò của Hê-ghen, những người kế thừa phép biện chứng của ông.
       Vào thời gian đó, Mác bắt đầu hấp thu học thuyết Hê-ghen. Tất nhiên lúc đầu, trong thâm tâm, anh sinh viên trẻ đứng về phía những người Hê-ghen trẻ, nhưng chẳng bao lâu sau anh đã tán thành họ một cách công khai. Bởi vì chính phương pháp biện chứng của Hê-ghen đã đưa Mác ra khỏi chỗ bế tắc của chủ nghĩa duy tâm chủ quan.
       Con đường đó không dễ dàng đối với Mác. Những buổi học tập căng thẳng – Mác thường ngồi cho đến sáng bên anh nến leo lắt – đã làm tổn hại sức khỏe của Mác. Vì thế, bác sĩ khuyên Mác đến mua hè nên ra ngoại thành ở, nếu có thề. Mùa xuân năm 1837 Mác chuyển ra ngoại ô Béc-lin, ở Stơ-ra-lau, và suốt mùa hè tại đây, có lẽ ở nhà số 4 (bây giờ là nhà số 8, An-tơ Stơ-ra-lau), chứ không phải tại căn phòng sinh viên của mình ở số nhà 50, phố An-tơ-i-a-cốp. sau khi rời Mít-ten, Mác đã chuyển đến ở đây.
       Mùa hè năm 1837, những chuyến đi thường xuyên về Béc-lin và nhữn cuộc dạo chơi bên bờ sông Sơ-pư-rê đã làm cho Mác khỏe hơn. Mác viết cho bố: “Cong không ngờ là con ốm yếu, quặt quẹo thế, mà ở đây cơ thể con lại trở nên khỏe mạnh và rắn chắc”[11]. Nhưng ngay cả ở Stơ-ra-lau, Mác vẫn tiếp tục học tập ráo riết. Đồng thời Mác tìm ra phương pháp làm việc mà sau này Mác vẫn tiếp tục suốt đời. Tất cả những sách đã đọc, Mác đều trích ghi những đoạn lớn, kèm theo nhà những ý nghĩ và những nhận xét có phê phán của chính mình để cho rõ ấn đề. Như vậy, không những Mác tiếp thu khoa học hiện đại một cách vững chắc, sâu sắc, mà trước hết là có phê phán.
       Sách báo mà Mác nghiên cứu cẩn thận, rất rộng và đa dạng. Nó gồm có lịch sử luật La-mã, luật hình, những sách nguyên bản tiếng la-tinh và luật nhà thờ, lịch sử triết học, triết học pháp quyền, và tất cả các sách văn học nữa.
       Mác quán triệt triết học Hê-ghen, nhất là phép biện chứng, ngay ở trong nhóm những người cùng tư tưởng, nhiều người trong bọn họ chẳng bao lâu sau đã đóng vai trò quan trọng trong phong trào của phái Hê-ghen trẻ. Mác viết cho bố vào tháng Mười một 1837: “Nhờ những cuộc gặp gỡ thường xuyên với các bạn Stơ-ra-lau, con đã có dịp đến “Câu lạ bộ tiến sĩ”. Trong số hội viên của câu lạc bộ có mấy phó giáo sư và một người thân nhất trong các bạn của con ở Béc-lin là tiến sĩ Ru-ten-béc. Tại những cuộc tranh luận ở đây đã bộc lộ những quan điểm khác nhau, đối lập nhâu…” [12].
       “Câu lạc bộ tiến sĩ” không phải là một nhóm hẹp các nhà trí thức trung thực với nhà thờ và chính phủ. Đó là nơi trung tâm gặp gỡ của một số bạn bè hay gây sự và sắc sảo, những kẻ đã ghi trên lá cờ của mình khẩu hiệu: phê phán tôn giáo, thật là tội khủng khiếp đáng chết! Những quyển sách và những bài văn công kích có ý nghĩa của những năm đó đã ra đời, được thảo luận, được phê bình ở đây. Những con người này đã cung cấp vũ khí tinh thần cho các báo chí tiến bộ. Ở đây, mõi người khai thác nguồn cảm hứng cho các công trình của mình: phó giáo sư lý học tiến sĩ Bơ-ru-nô Bau-e khai thác cho các bài giảng, giáo viên trường phổ thông thực hành Các Phơ-ri-đơ-rích Cốp-pen cho các công trình nghiên cứu lịch sử, giáo sư tiến sĩ A-đôn-phơ Ru-ten-béc cho các bài chính luận, mỗi người sử dụng những gì đã khai thác được ở câu lạc bộ cho cuộc đấu tranh hàng ngày và cho công tác khoa học. Ở đây, họ phát triển các quan điểm chính trị – tư tưởng và triết học của mình trong các buộc thảo luận sôi nổi.
       Bấy giờ anh sinh viên Các Mác cũng gia nhập câu lạc bộ này của những người Hê-ghen trẻ Béc-lin. Chẳng bao lâu sau, Mác đã trở tành một trong những người có tác động tinh thần mạnh mẽ hơn cả ở câu lạc bộ, mặc đầu tuổi còn trẻ –  phần lớn bạn bè của Mác ở câu lạc bộ đều hơn Mác đến 10 tuổi và đã quá lứa tuổi sinh viên từ lâu. Mác thân với Bơ-ru-nô Bau-e và A-đôn-phơ Ru-ten-béc. Bơ-ru-nô Bau-e lúc đầu có ảnh hưởng đáng kể đến anh sinh viên trẻ (Mác kém Bơ-ru-nô Bau e 9 tuổi) nhưng chẳng bao lâu ông đã thấy ở Mác một người cùng hội ngang hàng, có thể thảo luận cả những vấn đề hiện đại, cả những việc riêng tư. Phơ-ri-đơ-rich Cốp-pen cũng có cảm tình sâu sắc vứi người đồng chí trẻ tuổi, có bộ óc thông minh, sáng suốt.
       Các hội viên của “Câu lạc bộ tiến sĩ” thường họp nhau hoặc ở quán cà phê Sơ-tê-khen trên phố Gian-đa-men-mác (bây giờ là khu vực Viện Hàn lâm), hoặc ở nhà. Mác là hội viên của “Câu lạc bộ tiến sĩ” cho đến tận năm 1841, khi tốt nghiệp trường đại học tổng hợp. Ở đây, phép biện chứng của Hê-ghen đã giúp Mác hiểu lịch sử là một quá trình phát triển từ thấp đến cao, diễn ra trong những chuyển biến thường xuyên.
       Song, dầu cho anh sinh viên trẻ có tiếp thu được ít nhiều gì chăng nữa ở các đồng chí lớn tuổi hơn, chẳng bao lâu tư tưởng của anh đã đi theo những con đường khác. Trong khi các bạn áp dụng phép biện chứng của Hê-ghen chủ yếu trong lĩnh vực lý luận, không liên hệ cụ thể với thực tế, và trước hết trong vấn đề phê phán tôn giáo, thì Mác càng có hoài bão ứng dụng triết học trong thực tiễn. Nhưng hoàn toàn không phải là Mác đánh giá không đúng mức ý nghĩa của việc phê phán tôn giáo. Mấy năm sau, chính Mác đã viết về vấn đề này như sau, khi đánh giá vai trò lịch sử của “Câu lạc bộ tiến sĩ”: “…phê phán tôn giáo là tiền đề của mọi sự phê phán khác”[13]. “Do đó, sự phê phán tôn giáo trong mầm mống của nó là sự phê phán cái bể khổ mà vầng hào quang thiêng liên của bể khổ đó là tôn giáo”[14].
       Mác đã gây một ấn tượng mạnh mẽ biết chừng nào ở trong nhóm này. Bản trường ca châm biếm hợm hĩnh do anh thanh niên Phơ-ri-đơ-rich Ăng-ghen và Ét-ga Bau-e, em trai của Bơ-ru-nô Bau-e, viết sau khi Mác rời khỏi Béc-lin, đã chứng tỏ điều đó. Ăng-ghen, trong những năm từ 1841-1842, phục vụ trong đội pháo binh cận vệ ở Béc-lin, nhưng chưa biết Mác trực tiếp. Trong bản trường ca có những dòng sau đây nói về người đồng chí có nhiệt huyết và gan dạ:

“Ai đã phóng kịp theo anh
Tựa như bão lốc tung hoành thảo nguyên.
Kìa, đứa con đen đủi thành Tơ-ria
Với bầu nhiệt huyết tràn trề hăng say
Không đi, - anh chạy, không – bay
Như băng tuyết lở cuốn ngay núi này
Rực luồng mắt phượng gan thay,
Bồi hồi dang rộng đôi tay vươn mình.
Tựa hồ muốn phá trời xanh,
Tựa hồ quỷ ám, không đành ngồi yên.
Hay tay nắm chặt như điên
Đó chàng lực sĩ muốn lên phá trời!”[15]

       Tình bạn với Bơ-ru-nô Bau-e và Ru-ten-béc giúp Mác biết rõ hơn, gần gũi hơn với đời sống văn hóa của Béc-lin. Mác đi nhà hát luôn; Mác giữ một ấn tượng đựac biệt khi xem nghệ sĩ Dai-đen-man đóng vai Mê-phi-xtô-phen trong vở “Phau-xtơ” của Gớt. Mác thường lui tới nhà nữ văn sĩ Bét-ti-na phôn Ác-nim, một người có tinh thần dân chủ. Nhà của bà ở phố Un-te đen Lin-đen, lúc bấy giờ là trung tâm đời sống tinh thần của Béc-lin.
       Vào thời kỳ này – bấy giờ Mác ở phòng số 17, phố Mô-ren – quyết định của Mác không muống học làm luật sư mà làm giáo viên, nếu có thể thì làm giáo sư triết học, đã chín muồi. Cha Mác, vì thương con, cuối cùng cũng dằn lòng nhượng bộ, mặc dầu vẫn lo là con trai ông ít chú ý đến việc bảo đảm tương lai. Nỗi lo lắng này càng nặng nề đến nỗi ông cảm thấy không còn sức lực nữa.
Ngày 10 tháng Năm 1838, cụ Hen-rích Mác từ trần sau một thời gian dài lâm bệnh, thọ 61 tuổi. Các Mác bao giờ cũng nhớ đến cha với tấm lòng biết ơn chân thành, người cha mà Mác có thể tin tương để bộc lộ mọi vấn đề và mọi ưu tư của mình.
       Mác giữ tấm hình của cha ở bên mình cho tới khi chết.
       Cha mất, khiến tình hình kinh tế của Mác trở nên gay go. Bây giờ một mình mẹ phải lo cho bẩy đứa con – đứa con trai út, Ê-đu-a, chết năm 1837 vì bệnh lao phổi. Mẹ không thể hiểu được rằng tại sao con tra cả của mẹ lại hiến mình cho cái thứ triết học “không có lợi nhuận” gì cả. Vì thế, Mác cần phải nhanh chóng hoàn thành học tập. Song, cái tính tự phê bình nghiêm khắc đã trở thành đặc điểm của toàn bộ hoạt động khoa học sau này của Mác, đã không cho phép Mác kết thúc những công trình nghiên cứu của mình một cách vội vã.
       Vào đầu năm 1839, Mác được miễn quân dịch vì yếu phổi và hình như còn vì bệnh mắt nào đó. Mác bắt đầu viết luận án. Lúc bấy giờ Mác ở theo địa chỉ 45-A phố Lu-i-den (bây giờ là số nhà 60, phố Lu-i-den). Trong tất cả 7 địa điểm mà Mác đã từng ở trong thời gian học tập ở Béc-lin, đây là ngôi nhà độc nhất còn giữ lại được. Bây giờ ở ngôi nhà này có treo một bảng kỷ niệm.
       Mác chọn đề tài cho luận án của mình là “Sự khác biệt giữa triết học tự nhiên của Đê-mô-cơ-rít và triết học tự nhiên của Ê-pi-quya”. Ông nghiên cứu rất sâu quan điểm cả các nhà triết học Hy lạp Đê-mô-cơ-rít và Ê-pi-quya, những nhà triết học đã đứng trên lập trường duy vật. Trước hết Mác bảo vệ chủ nghĩa vô thần của Ê-pi-quya, nhà khai sát sáng vĩ đại nhất của cổ đại và là địch thủ công khai của tín ngưỡng thánh thần. Các quan niệm vô thần của Mác là một lời thách thức gián tiếp đối với chế độ phong kiến và Nhà nước Phổ theo Thiên chúa giáo.
       Đồng thời trong luận án này, Mác bắt đầu đánh giá có phê phán triết học hiện đại của Hê-ghen – một dự định mà Mác tiếp tục thực hiện mấy năm sau trong bài báo “Phê phán triết học pháp quyền của Hê-ghen”. Mặc dầu trong luận án Mác còn đứng trên lập trường của những người theo phái Hê-ghen, nghĩa là lập trường duy tâm, song Mác hoàn toàn không phải là một người gắn bó với Hê-ghen một cách mù quáng. Tuy Mác đánh giá cao phương pháp biện chứng duy tâm của Hê-ghen nhưng đối với Mác, triết học của Hê-ghen hoàn toàn không phải là điểm kết thúc của sự phát triển triết học, mà là điểm xuất phát, là cơ sở của sự phát triển tiếp theo của triết học. Trong tư tưởng của hê-ghen, cái hấp dẫn Mác là cái góp phần cho khoa học phát triển. Còn cái gì không đáp ứng được yêu cầu này thì Mác bác bỏ.
       Trong lời nói đầu của bản luận án, Mác tự hào tuyên bố là mình khâm phục Pơ-rô-mê-tê; đối với Mác, Pơ-rô-mê-tê đã trở thành hình ảnh tượng trung của con người bị hành hạ, đau khổ, vì đấu tranh cho tự do – kẻ thù của thánh thần và bạn của loài người. Mác muốn đến với nhân dân với tinh thần của Pơ-rô-mê-tê cùng nhân dân tấn công những thành trì của phản động, áp bức và của tất cả những gì mâu thuẫn với lý trí. Còn những kẻ bảo vệ cho cái cũ, cái lỗi thời, những kẻ phản động, thì Mác so sánh với Héc-méc, sứ giả của các thánh thần, tên tay sai của chúa tể Ô-lim-pơ – nơi ở của các thánh thần Hy Lạp. Trong khi phần đông những người Hê-ghen trẻ đứng trên lập trường tự do, nghĩa là chia sẻ những mục đích chính trị của giai cấp tư sản, những kẻ có của, thì Mác, nhờ các buổi học tập triết học và kinh nghiệm chính trị đầu tiên, đã đứng trên lập trường dân chủ, Mác muốn đấu tranh không phải vì lợi ích của giai cấp tư sản, mà vì lợi ích của toàn dân.
       Mùa xuân năm 141 Mác kết thúc bản luận án. Mác coi việc bảo vệ luận án ở trường đại học Béc-lin, nơi có các nhà tư tưởng chuyên nghiệp của thế lực phản động, đóng đo, là hạ phẩm giá của mình. Vì thế, Mác gửi luận án về trường đại học I-en-scơ. Giáo sư nhận xét luận án đã đánh giá nó cao, vì nó chứng tỏ là tác giả “có bộ óc thông minh, có tư tưởng sắc sảo và đọc nhiều”[16]. Và ngày 15 tháng Tư 1841, Mác được phong học vị tiến sĩ triết học mà không cần thi tiếp tục.
       Vào giữa tháng tư, khi Mác rời Béc-lin trở về Tơ-ria, các đồng chí ở “Câu lạc bộ tiến sĩ” đã đưa tiến Mác với những lời chúc tụng tốt đẹp nhất. Họ chờ đợi ở Mác những sự nghiệp vĩ đại và ủng hộ ý định của Mác nhận chức giáo sư ở trường Đại học tổng hợp Bon. Nhà chính luận Mô-dét Hét-xơ, một trong những người Hê-ghen trẻ, đã viết cho bạn mình vào mùa hạ năm 1841 với một niềm khâm phục; “Anh hãy chuẩn bị làm quen với một triết gia vĩ đại nhất, có thể là một triết gia chân chính duy nhất trong số đang còn sống hiện nay, một người mà chẳng bao lâu nữa sẽ thu hút mọi luồng mắt của nước Đức về phía mình, khi nào ông bắt đầu phát biểu công khai (trên báo chí hoặc trên bục giảng) …
       Tiến sĩ Mác, đó là tên của người mà tôi ngưỡng mộ, hãy còn trẻ lắm (chừng 24 tuổi là cùng), ông ta sẽ giáng một đòn quyết định vào tôn giáo và chính trị trung cổ. Sự nghiêm chỉnh sâu sắc nhất về triết học của ông kết hợp với trí thông minh sắc sảo tế nhị nhất; anh hãy hình dung cả Rút-xô, Von-te, Hôn-bắc, Lét-xinh, Hai-nơ và Hê-ghen kết hợp lại trong một con người – tôi nói kết hợp chứ không phải hỗn hợp một cách máy móc – và anh sẽ có khái niệm về tiến sĩ Mác.”[17]
       Lịch sử đã khẳng định những dòng của tác giả là hoàn toàn đúng, nhưng tác giả chỉ lầm có một điều là Mác không nhận được chức giáo sư ở Bon.




[1] C. Mác và F. Ăng-ghen: Toàn tập, tiếng Nga, t.1, tr. 185.
[2] Thư của Lút-vích Phơ-bách gửi A Phơ-bách ngày 6-7-1824. Trích trong sách; Ph. Mê-rinh-gơ “Các Mác”. Mát-xcơ-va, 1957, tr37.
[3] C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Những tác phẩm đầu tay, tiếng Nga, Mát-xcơ-va, 1956, tr. 8
[4] C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Những tác phẩm đầu tay, tiếng Nga, Mát-xcơ-va, 1962, tr. 16
[5] Trích dẫn sách Người đi đường không biết mỏi, của I-li-na, tiếng Nga, Mát-xcơ-va, 1964, tr. 174.
[6] C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Những tác phẩm đầu tay, tiếng Nga, Mát-xcơ-va, 1962, tr. 6.
[7] C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Những tác phẩm đầu tay, tiếng Nga, Mát-xcơ-va, 1962, tr. 6.
[8] C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Những tác phẩm đầu tay, tiếng Nga, Mát-xcơ-va, 1962, tr. 8.
[9] C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Những tác phẩm đầu tay, tiếng Nga, Mát-xcơ-va, 1962, tr. 8.
[10] C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Những tác phẩm đầu tay, tiếng Nga, Mát-xcơ-va, 1962, tr. 14.
[11] C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Những tác phẩm đầu tay, tiếng Nga, Mát-xcơ-va, 1962, tr. 12.
[12] C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Những tác phẩm đầu tay, tiếng Nga, Mát-xcơ-va, 1962, tr. 14.
[13] C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, tiếng Nga, t. 1, tr. 414.
[14] C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, tiếng Nga, t. 1, tr. 414.
[15] C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Những tác phẩm đầu tay, tiếng Nga, Mát-xcơ-va, 1962, tr. 483.
[16] C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, tiếng Nga, t. 1, tr. 254.
[17] C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, tiếng Nga, t. 1, tr. 261.

Thứ Sáu, 4 tháng 5, 2018

CHƯƠNG I: 1818 - 1843. Phần I


LỜI NHÀ XUẤT BẢN
      Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kết thúc thắng lợi đã mở ra cho cách mạng nước ta một giai đoạn mới với nhiều điều kiện thuận lợi đẻ có thể có những bước phát triển to lớn.
      Để góp sức thúc đẩy cách mạng tiến lên nhanh chóng, mỗi người cần nâng cao kiến thức về mọi mặt. Chính vì vậy mà Đảng và Chính phủ đã quy định học tập là một nghĩa vụ đối với mỗi cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân.
      Chúng ta cần học tập chủ nghĩa Mác – Lê-nin, học tập đường lối, quan điểm của Đảng ta và thực tiễn cách mạng phong phú của nước ta. Đó là điều chủ yếu. Nhưng bên cạnh đó, việc tham khảo lý luận và thực tiễn của nước ngoài, việc học tập có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới để mở rộng tầm hiểu biết cũng rất quan trọng.
      Để đáp ứng một phần yêu cầu học tập và nghiên cứu của bạn đọc. Nhà xuất bản Sự thật xuất bản một loại sách lấy tên là “Tài liệu tham khảo nước ngoài”.
      Tài liệu tham khảo nước ngoài lần này chúng tôi giới thiệu với bạn đọc là cuốn “CÁC MÁC TIỂU SỬ” do Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lê-nin trực thuộc Ban chấp hành trung ương Đảng xã hội thống nhất Đức biên soạn. Nhà xuất bản Đi-xơ, Béc-lin, xuất bản năm 1967. Bản tiếng Việt được dịch từ bản tiếng Nga của Nhà xuất bản sách chính trị quốc gia, Mat-xcơ-va, xuất bản năm 1969.
      Đây là một cuốn tiểu sử thuộc loại phổ biến khoa học viết về Các Mác, lãnh tụ vĩ đại của giai cấp công nhân quốc tế.
      Các tác giả đã giới thiệu với bạn đọc một cách có hệ thống về cuộc đời và sự nghiệp của Mác, người sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học. Qua cuốn sách, chúng ta thấy Mác chẳng những là một nhà lý luận sáng tạo và thiên tài mà còn là một lãnh tụ kiệt xuất của phong trào vô sản, vạch đường chỉ lối cho giai cấp công nhân, tổ chức và lãnh đạo giai cấp công nhân quốc tế thực hiện vai trò lịch sử của mình là “người đào mô chôn chủ nghĩa tư bản”.
      Để thuyết minh cho những vấn đề nêu trên, các tác giả đã nêu bật lại hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn của Mác, quá trình phát triển tư tưởng của Mác dần dần từ chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa duy vật, từ chủ nghĩa dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa cộng sản, những cuộc đấu tranh của Mác đã chống lại đủ mọi loại trào lưu không vô sản và phản động trong phong trào công nhân. Và Mác đã phải tiến hành những hoạt động này trong những điều kiện hết sức khó khăn: vô cùng thiếu thốn về vật chất, phải sống trong cảnh lưu vong, thường xuyên bị đe dọa phải trục xuất và truy tố v.v…
      Người đọc cũng dễ dàng nhận thấy qua cuốn sách rằng sự nghiệp của Mác gắn liền chặt ché với Phơ-ri-đơ-rích Ăng-ghen và Gien-ni Mác. Như các tác giả đã nêu bật, Ăng-ghen là người đã cùng Mác nhìn thấy vai trò lịch sử của giai cấp công nhân, là người có thể bô sung cho Mác và tiếp tục công việc của Mác trong bất cứ trường hợp nào, là cây vĩ cầm thứ hai sau Mác. Ăng-ghen đã trở thành người bạn và người đồng chí thân thiết của Mác. Trong sự nghiệp của Mác không thể thiếu Ăng-ghen và ngược lại. Có thể nói sự nghiệp của hai người là một.
      Còn Gien-ni, vợ Mác, không chỉ là người mẹ hiền của các con, mà còn là người đồng chí chung thủy với sự nghiệp của giai cấp công nhân, chung thủy với sự nghiệp của chồng, luôn luôn có mặt bên cạnh Mác trong những lúc khó khăn, gian khổ nhất, và là người thư ký của Mác không thể ai thay thế được.
      Xuất bản cuốn sách này chúng tôi không nhằm mục đích nào khác là giới thiệu một cách khái quát cuộc đời và sự nghiệp của Mác, giúp bạn đọc hiểu sâu hơn về Mác, qua đó học tập ở Mác tinh thần cách mạng kiên quyết và triệt để trong hoạt động cách mạng, kết hợp với tính khoa học nghiêm túc và sâu sắc trong công tác nghiên cứu và sáng tạo lý luận. Quyển sahs này cũng cung cấp những kiến thức bước đầu giúp các bạn có thể trực tiếp nghiên cứu các tác phẩm của Các Mác và Phơ-ri-đơ-rich Ăng-ghen được thuận lợi hơn.
      Mong rằng cuốn sách sẽ đáp ứng phần nào yêu cầu của các bạn.

                                                                        Tháng Tám 1975
NHÀ XUẤT BẢN SỰ THẬT
     
QUÊ HƯƠNG VÀ NHÀ TRƯỜNG
 Các Mác sinh ngày mồng 5 tháng 5 năm 1818 ở Tơ-ria trên sống Mô-den. Bấy giờ thành phố thân yêu của Mác gồm 12.000 dân. Trung tâm hành chính khu vực Mô-den hầu như không cố công nghiệp, Tơ-ria chủ yếu là một thành phố của bọn quan lại, lái buôn và thợ thủ công. Thành phố này do những người La-mã xây dựng, và suốt mấy thế kỷ nó đã trở thành đại bản doanh của tổng giám mục, người đồng thời là tuyển hầu. Vào cuối thế kỷ XVIII, sau khi về thăm Tơ-ria, Gơ-tơ đã miêu tả thành phố là có vẻ nặng nề do các bức tường thành bao quanh, thậm chí như bị rất nhiều nhà thờ, tu viện đè bẹp, lại còn một loạt nhà tế bần, tu viện công giáo, tu viện học phái Đê-các-tơ bao vây ở vòng ngoài. Nhưng cuộc cách mạng tư sản Pháp đã để lại dấu vết ở thành phố Tơ-ria. Và dấu vết đó sâu sắc đến nỗi ngay cả nước Phổ phản động cũng không thể xóa nổi bởi vì, theo quyết định của đại hội Viên năm 1815, vùng sông Ranh, và do đó cả Tơ-ria, đã sáp nhập vào Phổ.
      Quân đội cách mạng Pháp tước đoạt của cải của cả bọn chủ phong kiến, bọn quý tộc và nhà ở ở vùng sông Ranh vào những năm 90 của thế kỷ XVIII. Quân đội cách mạng Pháp thủ tiêu chế độ nông nô, xóa bỏ địa tô và tuyên bố mọi người bình đẳng trước pháp luật – thật ra, chỉ cho đàn ông mà thôi. Thay cho chế độ bắt buộc ghi tên vào một xưởng nhất định, bây giờ mọi người được tự do hành nghề. Về mặt luật pháp, thậm chí còn có cả tự do học tập và tự do báo chí. Cùng với pháp quyền tư sản, bộ luật công dân nhập từ Pháp sang, còn tổ chức cả tòa án, có đoàn hội thẩm và chế độ xử án công khai.
Các quan hệ tư sản mới đã khiến cho công nghiệp và thương nghiệp phát triển mạnh mẽ. Vì thế, những nhà máy đầu tiên của Đức đã ra đời ở chính vùng sông Ranh, và cùng với những nhà máy ấy, hai giai cấp mới – giai cấp tư sản công nghiệp và giai cấp vô sản công nghiệp hiện đại – cũng ra đời.
Song, những thành tựu của giai cấp tư sản ở vùng sông Ranh quả là cái cách cho bọn đại địa chủ quý tộc Phổ, thậm chí cho cả nhà vua và chính phủ Béc-lin, là những kẻ phải phục tùng giai cấp quý tộc này. Chúng có cơ sở để lo ngại rằng những quyền tự do tư sản của những người dân tỉnh Ranh có thể nêu gương cho các phần đất khác ở Phổ. Và như thế, sự thống trị giai cấp của bộn đại đị chủ quý tộc Phổ có thể bị đe dọa, đồng thời cái uy thế đối với Áo mà Phổ đã chiếm được trong Liên bang Đức – một liên bang không vững chắc hành lập năm 1815 gồm 34 vương hầu, vương quốc và 4 thành phố tự do – sẽ bị giảm sút.
      Dầu sao vua Phổ vẫn bất lực trước những quan hệ kinh tế - xã hội do chủ nghĩa tư bản tạo nên ở tỉnh Ranh. Đối với các tỉnh mới ở miền Tây này, vua Phổ lúc đầu phải buộc lòng tiến hành một chính sách tự do giả tạo trong khi vẫn kiên quyết củng cố sự thống trị của chế độ roi vọt quân phiệt, chế độ kiểm duyệt và tinh thần trung quân. Chính quyền Béc-lin cử những viên chức có học vấn và có kinh nghiệm nhất về cơ quan hành chính và tư pháp của tỉnh Ranh. Có lẽ nhân dịp đó mà Lút-vich phon Vét-pha-len, bố vợ tương lai củu Các Mác, người đã coi Mác như con đẻ, đã được cử vè Tơ-ria năm 1816, với tư cách là cố vấn của chính phủ hoàng gia Phổ.
      Chính quyền Béc-lin hy vọng chiếm được cảm tình của giai cấp tư sản ở hai bờ sông Ranh và Mô-den bằng chính sách tự do giả tạo. Nhưng chẳng bao lâu chính quyền đó lại giở đến chính sách Phổ hóa cực kỳ phản động, nổi tiếng một cách đáng buồn, và đối xử với những người dân tỉnh Ranh như đối với dân cư ở vùng bị chiếm đóng.
      Các Mác đã ra đời vào thời kỳ phản động đen tối đó. Song Mác lại sinh trưởng ở một tỉnh của nước Phổ phát triển hơn cả về mặt kinh tế, trong một gia đình có tinh thần khai sáng tư sản và lòng nhân đạo. Bố đẻ của Các Mác, ông Hen-rich Mác, hồi trẻ phải sống trong cảnh thiếu thống cùng cực, nhưng sau cũng nên người và trở thành trạng sư. Ông bỏ đạo Do Thái và chuyển sang đạo Tin lành. Ông là cố vấn tư pháp, là trưởng đoạn trạng sư của Tơ-ria và được mọi người kính nể. vốn là một người học rộng, yêu thích triết học và văn học cổ điển, ông đặc biệt khâm phục Lét-xing-gơ và các nhà khai sáng Pháp Vôn-te và Rút-xô – những bậc tiền bối về mặt tinh thần của chủ nghĩa nhân đạo tư sản. Những quan điểm triết học tiến bộ của ông kết hợp với nhãn quan tự do ôn hòa trong lĩnh vực chính trị. Thí dụ, ông mong muốn cho nước Phổ có hiến pháp tự do và chế độ đại biểu nghị viện, đồng thời ông đặt hy vọng vào vua Phổ. Rõ ràng là ông Hen-rích Mác xa lạ với những tư tưởng chính trị cách mạng. Mặc dầu vậy, chính phủ Phổ vẫn coi ông là “phần tử đáng ngờ” tại Tơ-ria vào tháng giêng 1834, ông tỏ ý tôn trọng lá cờ của nước Pháp và hát bài “Mác-xây-e”.
      Gia đình Mác không biết cảnh nghèo đói. Ông Hen-rich Mác đã bảo đảm cho các con và người vợ yêu quý là bà Hen-ri-ét-ta, một cuộc sống khá sung túc. Điều đó không phải lúc nào cũng dễ dàng, bởi vì trong khoảng từ 1815 đến 1826, bà Hen-ri-ét-ta Mác đã cho chào đời đến bốn người con trai và năm người con gái. Mác là người con thứ ba trong gia đình. Người con thứ hai là chị gái Xô-phi, hơn Mác hai tuổi. Người con đầu là Mô-rít Đa-vít, mất năm 1819.
      Thế là Mác trở thành người con trai lớn trong gia đình. Bố mẹ, và nhất là bố, rất yêu quý Mác. Mặc dù số người trong gia đình tăng lên rất nhanh, Mác vẫn là đứa con được yêu thương, chiều chuộng, tuy bố mẹ vẫn chăm sóc trìu mến tất cả tám người con. Mẹ Mác thường gọi Mác là đứa trẻ có số phận nuông chiều, cái gì cũng được toại nguyện. Khi bàn về những tài năng phong phú mà thiên nhiên ưu đãi con trai, bố thường tỏ ý mong muốn Mác sẽ đi theo con đường của ông và trở thành một con người mà hồi trẻ ông hằng mơ ước – một luật sư và nhà luật học lớn, một người bảo vệ nổi tiếng cho trí tuệ và lòng nhân đạo.
      Vào đầu năm 1820, gia đình Mác chuyển từ ngôi nhà số 664 đường Bơ-ru-ken (bây giờ là số 10 phố Bơ-ru-ken), nơi Mác đã ra đời, sang nhà 1070 phố Xi-me-ôn (bây giờ là số 8 phố Xi-mê-ôn).
Mác đã trải qua một thời thơ ấu sung sướng và vơ tư với các anh chị em của mình. Mác đã chơi đùa với họ rất vui vẻ trong các khu vườn, hoặc chơi trò đua ngựa, và họ đã phải làm ngựa cho Mác phi nước đại từ trên đồi Mac-cút-xbéc ở gần đó xuống. Và mặc dầu Mác hay trêu chọc các chị em gái và các cô thường phải chịu hậu quả những trò nghịch ngợm của Mác, Mác vẫn biết làm lành để các cô nguôi giận bằng cách kể cho các cô và bè bạn các cô nghe những câu chuyện ly kỳ.
      Năm 1830. Ông Hen-rich Mác gửi người con trai 12 tuổi của mình vào trường trung học Tơ-ria, trường Phơ-ri-đơ-rich vin-hen. Đó là năm ở Pháp xẩy ra cuộc cách mạng tháng Bả. Đối với Mác, năm đó bắt đầu một giai đoạn mới của cuộc đời.
      Từ năm 1815 trở đi, trường trung học Tơ-ria học theo chương trình của của Bộ văn hóa Phổ, song chính phủ Béc-lin không thể nào uốn nó theo tinh thần của giai cấp đại địa chủ quý tốc Phổ được. Như vậy trước hết là nhờ ông hiệu trưởng Vít-len-bắc có tinh thần tự do, biết bảo vệ tinh thần khai sáng và nhân đạo trong nhà trường. Việc giảng dậy ở đây tiến hành ở mức độ cao, nhiều thầy giáo là những nhà bác học nổi tiếng.
      Học sinh trường này là con cái các gia đình tư sản và quan lại, nhưng cũng có không ít con em nông dân và thợ thủ công muốn học để trở tành thầy tu hoặc viên chức Nhà nước. Các bạn cùng học vừa yêu lại vừa sợ Mác. Sau này con gái của Mác là Ê-lê-ô-nô-ra kể lại là theo lời bố mẹ, các bạn yêu cậu học sinh Mác vì cậu tham gia vào các trò nghịch ngợm ở nhà trường, nhưng lại sợ cậu vì lời lẽ sắc sảo và những bài thơ châm biếm của cậu chế nhạo một số người trong bọn họ. Nhưng, thân hơn cả đối với Mác là cậu bé Ết-ga phôn Vét-pha-len nhỏ tuổi hơn. Ết-ga cùng học một thời với Mác ở trường trung học và giữ được tình bạn với Mác cho đến khi chết.
      Tình bạn hồi trẻ với Ết-ga phôn Vét-pha-len không phải là tình cờ. Cả hai gia đình quan cố vấn chính phủ Lút-vich phôn Vét-pha-len và quan cố vấn tư pháp Hen-rich Mác đã quan nhau từ lâu. Khác với những người có cùng địa vị xã hội và cùng giới quan lại. Lút-vich phôn Vét-pha-len là một người có học vấn uyên bác và có tinh thần tự do. Tổ tiên ông về bên nội là những người tư sản, nhưng ông cụ thân sinh của ông lại được nhận hàm quý tộc vì có những chiến công xuất sắc. Ông cụ đồng ý nhận điều đó, mặc dầu vẫn tự hào về nguồn gốc của mình, mục đích chỉ để có thể kết hôn với người con gái mà mình yêu mến thuộc dòng dõi quý tốc Tô-cách-lan.
      Ngôi nhà của gia đình Vét-pha-len ở phố Rê-méc (bây giờ là phố Pa-u-lin) chỉ cách nhà Mác có mấy phtus đi bộ. Trẻ của hai gia đình thân nhau từ tuổi ấu thơ. Chị gái của Mác, Xô-phi, là bạn thân của Gien-ni phôn Vét-pha-len; Gien-ni hơn Xô-phi hai tuổi. Giữa Mác và Gien-ni cũng có một mối thiện cảm sâu sắc. Bọn trẻ thường chơi với nhau rất vui.
      Song, cậu học sinh trung học Mác không phải chỉ chơi thân với Ét-ga và Gien-ni, mà con cảm thấy ông bố của họ cũng đáng mến không kém. Ông Lút-vich phôn Vét-pha-len yêu cậu bé sớm khôn ngoan, và Mác coi ông là người cha thứ hai của mình. Vị cố vấn chính phủ này đánh gia cao tác phẩm “I-li-át”, “Ô-đi-xê” của nhà thơ cổ Hy Lạp Hô-me, đọc thuộc lòng nhiều đoạn trích dài trong những vở kịch của Sếch-xpia bằng cả tiếng Anh và tiếng Đức, và ông đặc biệt say mê chủ nghĩa lãng mạn. Ông biết truyền cho các con lòng say mê đó của mình đối với nền văn học nhân đạo. Và nếu Mác, vốn ham hiểu biết, đã cố khai thác ở người bạn lớn tuổi những nỗi niềm xúc động, kích thích nào đó mà cậu không thể tìm thấy cả ở trường, chừng mực nào đó cả ở nhà bố mẹ để, thì điều đó cũng không có gì lạ. Nhưng ông bố của Gien-ni đã mở ra cho Mác những chân trời mới, không phải chỉ trong lĩnh vực văn học. Vị cố vấn chính phủ còn quan tâm cả đến những vấn đề xã hội, và cậu bé – hàng ngày trên đường đến trường phải đi qua chợ đầy rẫy những nông dân nghèo từ các làng lân cận tới, và trong những khi dạo chơi đã trông tấy cảnh khốn cùng ngự trị ở các khu phố người nghèo – đã chú ý lắng nghe những lời của ông Lút-vích phôn Vét-pha-len than phiền về cuộc đời nghèo cực của nhiều người dân thành Tơ-ria. Mười năm sau, Mác nhớ lại lần đầu tiên mình được nghe nói về tư tưởng của nhà xã hội học không tưởng Pháp Xanh xi-mông ở nhà ông Vét-pha-len.
      Song, những câu chuyện trao đổi với bố về thế giới quan nhân đạo của Vôn-te, Lét-xinh-gơ hoặc Gơ-tơ rất có lý thú, những buổi cùng ông Lut-vích phôn Vét-pha-len đàm thoại, chơi vơi trong thế giới lãng mạn có hấp dẫn mấy đi nữa, thì cái chính dối với chàng thanh niên Mác vẫn là trường học. Phải bộ lộ bản lĩnh của mình ở đâu. Cậu học sinh Các Mác có nhiều năng lực và cậu đã học xong chương trình trung học, chủ yếu với những điểm tốt, không khó khăn gì. Vào tháng chín 1835, năm 17 tuổi, Mác thi tốt nghiệp trường trung học. Hồi đồng giám khảo hoàng gia ghi trong giấy chứng nhận tốt nghiệp là Mác “có nhiều năng lực, rất chuyên cần về những môn tiếng cổ đại, tiếng Đưc và lịch sử, chăm chỉ về môn toán, riêng tiếng Pháp thì chưa chăm lắm”. Và khi phát bằng tốt nghiệp cho Mác, Hội đồng giám khảo “hy vọng rằng, do có khả năng, trò Mác sẽ thực hiện được những điều mọi người mong muốn ở trò”[1].
      Bài luận tiếng Đức của Mác nổi bật trong số các bài thi tốt nghiệp. Đầu đề bài luận là: “Những ý nghĩ của một thanh niên khi chọn nghề”. Anh thanh niên Mác phê phán việc chọn nghề trên cơ sở quyền lợi ích kỷ hoặc thuần túy vật chất. Mác viết: “Lịch sử thừa nhận vĩ nhân là những người làm việc cho mục đích chung, và do đó bản thân họ cũng trở nên cao thượng hơn; kinh nghiệm cho thấy rằng, người nào đem lại hạnh phúc cho nhiều người nhất thì người đó là hạnh phúc nhất”[2]. Người thanh niên 17 tuổi ấy thấy chí hướng cuộc đời là phục vụ nhân loại và làm cho thực tiễn trở nên nhân đạo.
      Đó cũng là những ý nghĩa mà thầy giáo Vít-ten-bắc thường trình bày và trao đổi với các học trò của mình. Nhưng anh thanh niên Mác còn thừa nhận là việc chọn nghề không chỉ phụ thuộc vào ý muốn cá nhân: … “chúng ta không phải bao giờ cũng có thể chọn một nghề mà chúng ta mong muốn; các quan hệ của chúng ta trong xã hội đến một chừng mực nào đó đã bắt đầu được xác định ngay từ trước khi chúng ta có thể có tác dụng quyết định đối với các quan hệ đó.”. Ý nghĩa này đáng chú ý, nó chứng tỏ rằng anh thanh niên Mác đã bắt đầu nhận thức được ý nghia các quan hệ xã hội trong đời sống con người. Và Mác kết thúc bài luận của mình bằng những lời sau đây: “Nếu ta đã chọn một nghề mà qua đó ta có thể cống hiến nhiều nhất cho nhân loại, thì ta sẽ không cảm thấy gánh nặng của nghề ấy, bởi vì đó chính là sự hy sinh vì mọi người; khi đó niềm vui được hưởng không chỉ là một niềm vui ích kỷ, hẹp hỏi và nhỏ nhen, mà hạnh phúc của ta sẽ thuộc về hàng triệu người. Sự nghiệp của ta sẽ tồn tại, chẳng ầm ĩ, nhưng mãi mãi là cuộc sống có ích, và trên di hài của ta sẽ có những con người cao quý nhỏ những giọt nước mắt hóng hổi…”.[3]




[1] C. Mác và F. Ăng-ghen: Toàn tập, tiếng Nga, t.1, tr. 429-430.
[2] C. Mác và F. Ăng-ghen: Những tác phẩm đầu tay, tiếng Nga, Mat-x cơ-va, 1956, tr. 5
[3] C. Mác và F. Ăng-ghen: Những tác phẩm đầu tay, tiếng Nga, Mat-x cơ-va, 1956, tr. 5

Thứ Sáu, 11 tháng 8, 2017

“TÔN GIÁO LÀ THUỐC PHIỆN CỦA NHÂN DÂN – KARL MARX” MỘT CÁCH NHÌN KHÁC

         Từ lâu câu nói “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” của Karl Marx vẫn được nhiều người hiểu theo ý nghĩa một cách tiêu cực. Nhiều người cho rằng câu nói này Marx đưa ra để phê phán tôn giáo giống như một thứ gây hại cho xã hội. Thậm chí ngay cả những người tự cho mình là bảo vệ chế độ cũng dùng câu nói này để phê phán, lên án cực lực chính tôn giáo. Điều này đã gây mâu thuẫn lớn trong chính những người đi theo tôn giáo với những người đi theo chủ nghĩa Marx Lenin. Đây là hiện thực không thể tránh khỏi của lịch sử. Thông thường chúng ta sẽ thường gặp những sự phê phán đả kích lẫn nhau giữa những người theo chủ nghĩa duy vật biện chứng và những người đi theo niềm tin tôn giáo.
         Những người đi theo niềm tin tôn giáo cho rằng Marx đã phủ định hoàn toàn tôn giáo, độc tôn chủ nghĩa duy vật giống như Feuerbach, đó là con người tạo nên tôn giáo và tất cả hình ảnh trong tôn giáo thực chất là hình ảnh con người với những điều tốt đẹp nhất. Về cơ bản Feuerbach phê phán và phủ định mạnh mẽ tôn giáo. Chính điều này dẫn đến những nhận thức sai lầm rằng khi nhiều người cho rằng Marx chủ trương phải tiêu diệt tôn giáo. Điều này khiến cho những con người đi theo niềm tin tôn giáo kháng cự một cách mạnh mẽ với những học thuyết của chủ nghĩa Marx. Thậm chí họ cho rằng Marx là người đang cố gắng đánh đổ niềm tin tuyệt đối của chính họ, phá bỏ những truyền thống của những con người này trong khi tư duy của con người thường là bảo thủ và định kiến. Điều này có thể thấy rõ ràng nhất đó là những người theo Thiên Chúa Giáo và Hồi Giáo gần như rất khó tiếp cận với những nguyên lý của chủ nghĩa Marx.
         Trong khi đó ở phía bên kia là những người đặt niềm tin tuyệt đối vào chủ nghĩa Marx theo họ Marx là khoa học. Và thay vì từ bỏ niềm tin cảm tính thì họ lại đem đặt niềm tin cảm tính của mình vào Chúa trời thì họ lại đặt niềm tin tuyệt đối cảm tính của họ vào khoa học mà cụ thể ở đây là Marx. Họ tin Marx một cách mù quáng dù không cần hiểu Marx. Và như vậy tự họ đã đưa ra Marx trở thành một thứ tôn giáo mà được sinh ra với nghĩa vụ là tiêu diệt những tôn giáo cũ. Chính sự hiểu lầm này đang dần biến chủ nghĩa Marx thay vì xây dựng niềm tin lý tính thì lại biến thành niềm tin giáo điều giống như mọi tôn giáo khác. Chính vì vậy thực chất quá trình phê phán tôn giáo lại biến thành việc đả phá tôn giáo. Chúng ta đã từng thấy ngay trong lịch sử những cuộc chiến xóa bỏ tôn giáo hoặc đấu tranh giữa các tôn giáo. Tiêu biểu nhất chính là cuộc Thập Tự Chinh giữa Thiên Chúa giáo và Hồi giáo. Tuy nhiên ở thế kỷ 20-21 thì cuộc chiến tôn giáo lớn nhất nhiều lúc chính là việc thay bức tượng Chúa trời trong nhà thờ bằng tượng Karl Marx. Điều này làm cho tôi nhớ đến một câu chuyện trong Phật giáo, đó là khi vị sư phụ dạy học trò diệt bỏ lòng tham thì sau một thời gian tu tập học trò đến gặp sư phụ và báo cáo kết quả: “Thưa thầy Phật pháp thật hay, con nay đã diệt trừ được sự tham tiền, giờ con chẳng còn tham gì nữa chỉ tham Phật pháp thôi”. Tuy nhiên vị sư phụ đã nói luôn: “Ta dạy con diệt trừ sự tham chứ không phải đổi đối tượng tham”. Và tư tưởng của những người này đã tạo nên việc bài xích tôn giáo, tạo nên những phong trào như phá chùa, đốt đền, đánh đuổi tăng lữ.
         Vậy thực chất câu nói này của Karl Marx là như thế nào, nguồn gốc câu nói này ra sao và thực sự phải hiểu thế nào cho đúng bản chất câu nói đó. Đấy là điều mà bản thân tôi băn khoăn nhiều năm qua, nhưng khi đọc lại chính câu nói này trong tác phẩm nguyên bản, tôi bỗng chợt thấy rằng giường như mọi thứ đang đảo lộn và thôi thúc tôi phải viết lại những cảm nhận của chính mình về câu nói này, như một cách chia sẻ với những người bạn am hiểu Marx. Tất nhiên cách nhìn nhận của tôi không thể chính xác hoàn toàn bởi lẽ tôi không phải là Marx nhưng hi vọng dần dần có thể tiệm cận được với những gì Marx nghĩ, Marx nói và Marx làm.
1. Những khái niệm cơ bản:
         Để có thể hiểu được câu nói trên trước tiên ta phải hiểu những khái niệm cơ bản mà chủ yếu ở đây là thế giới quan và phương pháp luận.
         Khái niệm Thế giới quan: Thế giới quan chính là biểu hiện của cách nhìn bao quát (bức tranh) đối với thế giới bao gồm cả thế giới bên ngòai, cả con người và cả mối quan hệ của người – thế giới (tức là mối quan hệ của người đối với thế giới). Nó quy định thái độ của con người đối với thế giới và là kim chỉ nan cho hành động của con người.
         Từ khái niệm trên ta có thể rút ra một điều đó là thế giới quan là tư tưởng cơ bản trong tư duy của mỗi con người. Chính vì vậy nó quy định thái độ, hành động của con người với xã hội và mỗi người sẽ có thế giới quan khác nhau. Nhưng chung quy lại sẽ có 3 loại thế giưới quan cơ bản theo sự phân chia của các nhà triết học:
-         Thế giới quan huyền thoại: “phương thức cảm nhận thế giới của người nguyên thủy. ở thời kỳ này, các yếu tố tri thức và cảm xúc, lý trí và tín ngưỡng, hiện thực và tưởng tượng, cái thật và cái ảo, cái thần và cái người, v.v. của con người hoà quyện vào nhau thể hiện quan niệm về thế giới”. Điều này có thể thấy ở thế giới quan huyền thoại, con người và thần không có sự khác biệt. Và thần thánh được đưa ra như một lời giải thích cho chính những sự vận động của giới tự nhiên. Và sự giải thích này có thể đúng, có thể sai, không thể phủ định hoàn toàn nhưng cũng không thể khẳng định hoàn toàn. Chính vì vậy dựa trên những nền tảng của thế giới quan huyền thoại là manh nha của sự ra đời của thế giới quan tôn giáo. Tôn giáo ra đời ban đầu chính là đa thần giáo, là những tôn giáo cấp thấp khi con người ta tin tưởng và tôn thờ nhiều vị thần như cách để giải thích thế giới của con người thời bấy giờ. Và như một sự tồn tại tất yếu của lịch sử thì đa thần giáo gần như bị loại bỏ, các tôn giáo thờ nhiều vị thần đã gần như biến mất trên thế giới và chỉ còn lại một số ít đến ngày nay. Thay thế cho đa thần giá chính là nhất thần giáo, vì sao lại vậy vì nhất thần giáo thay thế cũng phản ánh quá trình phát triển tư duy nhận thức của con người khi niềm tin lớn mạnh hơn. Quá trình này cũng đánh dấu sự hình thành tư duy của loài người. Nếu như trước kia họ tôn thờ nhiều vị thần thì nay chỉ cần 1 đấng toàn năng duy nhất và đấng toàn năng này điều khiển giới tự nhiên. Một điểm bạn có thể dễ dàng nhận thấy đó là nếu như đa thần giáo đại diện cho giới tự nhiên khi con người dựa vào giới tự nhiên để tồn tại thì mọi sự thay đổi của giới tự nhiên đều khiến cho họ lo sợ, ở đây vật chất lại đang chiến thắng chính ý thức. Thì đến nhất thần giáo, đấng toàn năng lại là đại diện cho ý chí của chính con người, và đấng toàn năng sáng tạo ra giới tự nhiên thì lại là ý thức điều khiển vật chất và con người thay vì lo sợ giới tự nhiên thì họ lại điều khiển ngược lại giới tự nhiên vì đằng sau họ có một chỗ dựa vững chắc, đó là đấng toàn năng hay gọi chung là các Sáng tạo thần.
-         Thế giới quan tôn giáo: “niềm tin tôn giáo đóng vai trò chủ yếu; tín ngưỡng cao hơn lý trí, cái ảo lấn át cái thực, cái thần vượt trội cái người”. Như đã phân tích ở trên, chúng ta có thể thấy rằng tôn giáo được sản sinh trên nền tảng của huyền thoại. Nhưng khi đến thế giới quan tôn giáo thì niềm tin trở nên rõ ràng, đó là niềm tin của cảm tính và định kiến. Có thể thấy điều rõ ràng nhất chính là ý thức của con người trở nên vượt trội so với vật chất. Con người dường như không quan tâm nhiều đến sự vận động của giới tự nhiên và theo họ đã có một người lo, đó chính là các Sáng tạo thần hay Đấng toàn năng. Họ tin tưởng rằng dù họ có làm bất cứ việc gì đi nữa, đúng hay sai thì chỉ cần họ có niềm tin vào Chúa trời, thì việc đó là việc Chúa trời sai bảo. Chính vì vậy khi mới ra đời, các tôn giáo thường mang mục đích tốt lành đó là khuyến thiện con người, khuyên người đoạn ác tu thiện, làm theo những điều lành mà không làm những điều ác. Nhưng theo sự phát triển, khi niềm tin cảm tính vượt qua nhận thức thế giới, thì ranh giới đúng sai thiện ác bị xóa bỏ mà thay vào đó chỉ còn là làm theo hay không làm theo ý chí của Chúa trời. Trong lịch sử, điều này rõ ràng nhất là sự phân chia Thiên Chúa Giáo thành Chính Thống Giáo[i] và Công giáo[ii]. Trong khi Chính Thống giáo vẫn muốn duy trì những điều nguyên thủy cơ bản của Thiên Chúa Giáo cũng như là niềm tin tinh thần cho con người thì Công giáo lại biến thành thần quyền. Bắt người ta đặt niềm tin cảm tính tuyệt đối và không được tồn tại niềm tin khác. Việc đưa ra niềm tin này là bắt buộc và họ bài trừ những niềm tin khác (dù niềm tin đó chưa chắc đã là dối lập). Việc này xảy ra khi chính giai cấp thống trị ở châu Âu muốn biến tôn giáo thành thần quyền để thống trị người dân. Và họ chỉ cần người dân tin vào các Sáng tạo thần và họ là người đại diện nói thay lời của các Sáng tạo thần. Sự kiện này ở bên Trung Quốc xuất hiện khá muốn, khoảng thế kỷ 19 đó là sự ra đời của Thái Bình Thiên Quốc[iii]. Tuy nhiên nếu như nhất thần giáo tồn tại được ở Châu Âu thì nó lại thất bại ở chính các nước Á Đông mà cụ thể nhất là Trung Quốc khi mà Thái Bình Thiên Quốc không thể lập ra được Thiên Quốc của họ mà chỉ có tồn tại trong vòng hơn 10 năm (1851-1864). Và một trong những nguyên nhân khiến cho Thái Bình Thiên Quốc thất bại đó là khi họ đưa một vấn đề niềm tin cảm tính quá cao và tuyệt đối vào một đất nước Á Đông, vốn coi trọng thuyết nhân quả và quy luật quan hệ xã hội loài người (như một hình thức của niềm tin lý tính) hơn là vào các Sáng tạo Thần (niềm tin cảm tính). Như vậy kết luận lại có thể thấy rằng lịch sử của thế giới quan tôn giáo cũng là phản ánh sự nhận thức trong tư duy của chính con người qua từng thời kỳ phát triển của xã hội loài người.
-         Thế giới quan triết học: “là thế giới quan diễn tả quan niệm của con người dưới dạng hệ thống các phạm trù, quy luật đóng vai trò như những bậc thang trong quá trình nhận thức thế giới. Với ý nghĩa như vậy, triết học được coi như trình độ tự giác trong quá trình hình thành và phát triển của thế giới quan”. Tuy nhiên vì là cả một quá trình tự giác trong tư duy vậy nên thế giới quan triết học có một sự vận động vô cùng phức tạp, sẽ đi dần tư nhận thức sai lầm đến nhận thức chân lý. Và quá trình này phụ thuộc chính là con người có thể nhận thức giới tự nhiên đến đâu. Chính vì vậy thế giới quan triết học mà đại diện là khoa học luôn vận động, và không ngừng nhận thức. Cái sau phủ định cái trước như một tiến trình phát triển trong tư duy nhận thức của xã hội và khoa học phải có đúng có sai vì nếu không có đúng có sai thì khoa học sẽ ngừng lại và không thể phát triển được nữa. Cũng giống như Hegels[iv] phủ đinh Kant[v], Feurbach[vi] phủ định Hegels và đến Marx lại tiếp tục phủ định cả Hegles lẫn Feuerbach. Rõ ràng niềm tin của thế giới quan triết học là niềm tin lý tính, là quá trình phủ định không ngừng thế nhưng hiện nay lại một số người biến nó thành niềm tin cảm tính là khoa học đúng hết và luôn tin vào khoa học mà bỏ qua niềm tin tôn giáo. Chính vì vậy là cơ sở để hình thành nên hai thuyết, một là thuyết vô thần tuyệt đối khi con người là trung tâm giới tự nhiên và điểu khiển giới tự nhiên thông qua khoa học và thuyết thứ hai là hoài nghi luận là hoài nghi tất cả mọi niềm tin tôn giáo và thần thoại nhưng không bao giờ hoài nghi tư duy của chính mình. Đồng thời hình thành nên tôn giáo mới, đó là tôn giáo của khoa học.
         Như vậy qua 3 khái niệm trên và một chút luận giải thì chúng ta bắt đầu đi vào luận giải câu nói của Karl Marx “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”
2. Luận giải “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân.”
2.1. Hoàn cảnh ra đời
         Câu nói: “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân.” được trình bày ở trong lời nói đầu của tác phẩm “Góp phần phê phán triết học pháp quyền Hegels” (1844). Vì vậy có thể thấy rằng nội dung của tác phẩm này của Marx đối tượng chính lại là phê phán triết học pháp quyền Hegels chứ không phải là phê phán tôn giáo, đồng thời Marx không phải phủ định sạch trơn, ông chỉ đề tiêu đề tác phẩm là Góp phần phê phán, tức ông muốn loại bỏ ra những cái duy tâm kỳ bí trong chính triết học pháp quyền Hegels.
         Như vậy có thể thấy hoàn cảnh ra đời của câu nói này trong giai đoạn mà ở nước Đức đang có sự thịnh hành của hai tư tưởng là tư tưởng triết học duy tâm của Hegels và triết học duy vật nhân bản của Feuerbach. Feuerbach là một trong những người phê phán gay nhất chủ nghĩa duy tâm với ý niệm tuyệt đối của Hegels và sự sáng tạo thế giới bằng ý niệm tuyệt đối. Vậy nên cùng với đó Feuerbach cũng phê phán mạnh mẽ các tôn giáo duy tâm mà lúc đó thịnh hành nhất ở Đức chính là Giáo hội Công giáo. Theo Feurerbach thì Chúa trời, hay Đấng sáng tạo thực chất là do con người sáng tạo nên, là thể toàn vẹn toàn mĩ của con người. Đây là điểm mấu chốt rất trong toàn bộ lời nói đầu mà ít người đọc để ý đến nhưng lại rất quan trọng vì nó sẽ ảnh hưởng lớn đến những đoạn phân tích sau này của Karl Marx.
2.2. Luận giải “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”
         Bây giờ chúng ta sẽ đi đến phần luận giải câu nói trên khi đặt trong bố cục toàn bộ bài viết của Karl Marx như sau:
         Đối với nước Đức thì việc phê phán tôn giáo, về thực chất, đã kết thúc và việc phê phán tôn giáo là tiền đề của mọi sự phê phán khác.
         Ngay từ câu mở đầu, Marx không hề phân tích, ông đang đưa ra một thực tế đang xảy ra ở nước Đức, đó là ở Đức đã và đang có trào lưu tư tưởng phê phán tôn giáo. Và theo Karl Marx thì về thực chất sự phê phán tôn giáo đã kết thúc, nhưng điều đó không nghĩa là nó chấm hết, mà nó mở ra tiền đề cho những sự phê phán trước. Đối chiếu lại lịch sử nước Đức giai đoạn 1844 thì trào lưu phê phán tôn giáo thực chất lúc đó khá mạnh mẽ và người khởi xướng chính là Feurerbach. Vậy có thể thấy Marx không đưa ra trào lưu tư tưởng trên mà ông ngay từ câu mở đầu chỉ là một câu nói mang tính nhận xét về sự kiện lịch sử đã và đang xảy ra ở nước Đức. Bây giờ chúng ta sẽ đi đến đoạn tiếp theo:
         Tồn tại dưới cõi trần của lầm lạc đã bị mất uy tín, một  khi sự oratio pro aris et focis[vii] trên thượng giới của nó bị bác bỏ. Người nào đã đi tìm một tồn tại siêu nhân nào đó trong tính hiện thực ảo tưởng trên th­ượng giới mà chỉ tìm thấy có sự phản ánh của bản thân mình, thì người đó không còn  mong muốn chỉ tìm thấy cái bề ngoài của bản thân mình, cái không-phải-là-con-người, - ở nơi mà người đó đang tìm và phải tìm tính hiện thực chân chính của mình.
         Tiếp theo ở đoạn này Karl Marx đã viết rất rõ ràng khi ông ta mô tả một hiện thực đối với những người có niềm tin tôn giáo. Marx mô tả có một thực tế đang tồn tại trong việc phê phán tôn giáo, đó òa: những lý lẽ để đưa ra bảo vệ tôn giáo, những lời tự tán dương về tôn giáo, những lý lẽ bảo vệ đức tin tôn giáo đã và đang bị bác bỏ ở ngay chính cõi trần lầm lạc tức là ở hiện thực xã hội. Những con người đã và đang đi tìm một đáng toàn năng trong tôn giáo ở ngay trong hiện thực xã hội của Đức lúc bấy giờ đặc biệt là ở giới trí thức khi mà khoa học đang ngày càng phát triển lên thì họ dường như cảm thấy không tìm thấy được đấng toàn năng mà chỉ là một phần hình ảnh của chính họ ẩn đằng sau các tôn giáo. Chính vì vậy ở nơi đó, những trí thức mới của Đức bắt đầu chuyển hướng, thay vì họ đăt ra câu hỏi Chúa là ai và ở đâu thì câu hỏi mà họ đặt ra lại là tại sao lại có hình ảnh của ta xuất hiện trong Chúa, và điều này thôi thúc nhiều người trong giới tinh hoa tìm lại vậy thực tế con người ta là ai, ta xuất hiện trước Chúa hay Chúa xuất hiện trước ta. Toàn bộ cả đoạn viết là một hiện thực xã hội mà do Marx đưa ra, khi mà niềm tin cảm tính bị thay thế bởi những nghi vấn và sự phát triển của thuyết hoài nghi luận. Marx hoàn toàn không phân tích hay nhận xét mà ông chỉ vẽ lại thực tế hình ảnh tư tưởng của giới trí thức Đức ở thời kỳ phê phán tôn giáo. Tuy nhiên cơ sở nào khiến cho giới trí thức đặt ra câu hỏi như vậy, Marx đã trình bày cụ thể luận điểm cơ sở của chính Feurerbach ở đoạn tiếp theo, đây cũng là hạt nhân chính, là tiền đề cho sự phê phán tôn giáo ở Đức đã và đang diễn ra:
         Căn cứ của sự phê phán chống tôn giáo là: con người sáng tạo ra tôn giáo chứ tôn giáo không sáng tạo ra con người. Cụ thể là: tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự cảm giác của con người chưa tìm được bản thân mình hoặc đã lại để mất bản thân mình một lần nữa. Nhưng con người không phải là một sinh vật trừu tượng, ẩn náu đâu đó ở ngoài thế giới. Con người chính là thế giới con người, là nhà nước, là xã hội. Nhà nước ấy, xã hội ấy sản sinh ra tôn giáo, tức thế giới quan lộn ngược, vì bản thân chúng là thế giới lộn ngược. Tôn giáo là lý luận chung của thế giới ấy, là cương yếu bách khoa của nó, là lô-gích dưới hình thức phổ cập của nó, là point d'honneur[viii] duy linh luận của nó, là nhiệt tình của nó, là sự chuẩn y về mặt đạo đức của nó, là sự bổ sung trang nghiêm của nó, là căn cứ phổ biến mà nó dựa vào để an ủi và biện hộ. Tôn giáo biến bản chất con người thành tính hiện thực ảo tưởng, vì bản chất con người không có tính hiện thực thật sự. Do đó, đấu tranh chống tôn giáo là gián tiếp đấu tranh chống cái thế giới mà lạc thú tinh thần của nó là tôn giáo.
         Đây là một luận điểm cơ bản của triết học nhân bản Feurebach, là một người đã từng theo nhóm Hegels trẻ và chịu ảnh hưởng nhất định từ Feurerbach, Marx đã chỉ ra vấn đề tư duy sâu thẳm nằm trong chính cách suy nghĩ của những người trí thức thời đấy đó là: con người sáng tạo ra tôn giáo chứ tôn giáo không sáng tạo ra con người. Đây là một luận điểm rất hay mà bản thân Marx cũng đồng tình với Feurebach ở trong một số điểm đó chính là phủ định quá trình tạo ra con người của các Đấng toàn năng, nó là tiền đề sau này cho các vấn đề triết học cơ bản của Karl Marx đó chính là giới tự nhiên bản thân nó là một thể thống nhất, toàn diện và hoàn mĩ, Chính giới tự nhiên đã tồn tại từ rất lâu rồi bản thân tự giới tự nhiên tạo ra chính nó cũng như vận đồng chính nó. Vậy nên con người với tư cách là một bộ phận của giới tự nhiên thì sẽ phải là sản phẩm của giới tự nhiên chứ không phải của một Đấng toàn năng nào. Quan điểm này của Karl Marx cũng giống với quan điểm của các tư tưởng tôn giáo phương Đông, ví dụ như Phật giáo coi rằng vũ trụ bản thân nó đã tự có và tự vận động, không có sự sáng chế ra giới tự nhiên nào. Cũng thế với quan điểm Đạo giáo Trung Quốc thì khởi nguyên của vũ trụ là Đạo, từ bản thân từ thuở Hồng mông đã có Đạo và Đạo là sản sinh ra mọi vật với tư cách là khởi thủy ban đầu của chính giới tự nhiên.
         Quan điểm thứ hai Marx đồng tình đó chính là con người sáng tạo ra tôn giáo chứ tôn giáo không sáng tạo ra con người. Điểm mấu chất ở quan điểm này cũng dựa trên một sự thật lịch sử, đó là các tôn giáo trên thế giới đều ban đầu xuất phát từ những bài giảng của của những vị mà ta tạm coi là giáo chủ ban đầu. Giống như Thiên Chúa Giáo từ bài giảng của Chúa Giesu hay Hồi giáo là từ nhà tiên tri Mohamed. Đây đều là những con người có thật trong lịch sử, họ đưa ra những triết lý, những bài giảng không phải thông qua việc bịa đặt hay áp đặt. Mà xuất phát từ chính quá trình nhận thức thế giới của họ, những bài giảng này đi đến từng con người với vai trò dạy cho con người một quá trình nhận thức thế giới khách quan thông qua thực tế và ý thức của họ. Tuy nhiên những bài giảng, tư tưởng này cũng phải chịu theo quy luật tồn tại của lịch sử, đó là khi có nhiều môn đồ, thì sẽ được nâng cấp lên từ những bài giảng, tư tưởng thành giáo lý, giáo lý và niềm tin là cơ sở hình thành nên tôn giáo. Có thể hiểu một cách đơn giản là bản thân những giáo chủ đầu tiên mục đích ban đầu của họ chỉ là giúp cho đại bộ phận nhân dân nhận thức xã hội và tự ý thức, tuy nhiên cuối cùng những bài giảng, tư tưởng lại được đưa lên thành giáo lý và thay thế một sự tự ý thức, một niềm tin lý tính thành những niềm tin cảm tính vào chính những giáo lý như vậy. Kết quả là tôn giáo hình thành và quá trình này đều được thực hiện sau khi chính những vị giáo chủ đời đầu tiên đó đã không còn nữa mà là sau này do các môn đồ của ông. Vậy nên một sự thật khá hiển nhiên là quá trình hình thành tôn giáo lại diễn ra sau và cụ thể là chính con người sáng tạo nên tôn giáo như một quá trình tất yếu của lịch sử. Chính vì vậy Marx không hề phê phán các quan điểm, tư tưởng hay các bài giảng tôn giáo nguyên thủy, ông chỉ đưa ra một thực tế là niềm tin cảm tính vào giáo lý và tôn giáo sau này là do chính con người đặt ra quy định người theo đạo tôn giáo đó phải học theo. Và ở đó Marx bảo con người đã đánh mất sự tự ý thức cũng như niềm tin lý tính của chính mình. Ở điểm này có một câu chuyện khá hay giữa một vị cha xứ và một vị hòa thượng như sau: vị cha xứ bảo rằng Phật giáo và Thiên Chúa giáo là hoàn toàn giống nhau, vì Phật giáo khuyên tin Phật, và Thiên Chúa giáo khuyên tin Chúa, nhưng vị hòa thượng lại bảo không giống nhau là vì Phật giáo không khuyên tin Phật đầu tiên mà trước tiên phải là tin chính mình, đó chính là sự tự ý thức của con người, là cách để tìm lại bản thể của con người. Và điểm khác biệt cơ bản đó là Chúa là Đấng toàn năng sáng tạo nên vạn vật, nhưng Phật chẳng sáng tạo nên gì, Phật là người giác ngộ và thấu hiểu vũ trụ (giới tự nhiên và chính bản thể của mình) như chính giới tự nhiên đó có. Và với quá trình biến đổi như vậy, Marx một lần nữa chỉ ra là tư duy của con người đang bị đảo lộn với chính lịch sử, đó là con người sáng tạo ra tôn giáo, nhưng họ lại được dạy rằng tôn giáo sáng tạo ra con người – một paradox vô cùng lớn trong chính tư duy của con người.
         Đến đây thì Marx đưa ra một nhận xét rất hay: 
         Tôn giáo là lý luận chung của thế giới ấy, là cương yếu bách khoa của nó, là lô-gích dưới hình thức phổ cập của nó, là point d'honneur duy linh luận của nó, là nhiệt tình của nó, là sự chuẩn y về mặt đạo đức của nó, là sự bổ sung trang nghiêm của nó, là căn cứ phổ biến mà nó dựa vào để an ủi và biện hộ. Tôn giáo biến bản chất con người thành tính hiện thực ảo tưởng, vì bản chất con người không có tính hiện thực thật sự. Do đó, đấu tranh chống tôn giáo là gián tiếp đấu tranh chống cái thế giới mà lạc thú tinh thần của nó là tôn giáo.. 
         Đó chính là trong thế giới ấy, tôn giáo tạo nên tất cả những sự chuẩn ye về mặt đạo đức cho chính con người, là một sự tư duy của con người dựa trên niềm tin cảm tính, và vì bản chất của con người vốn không có tính hiện thực thật sự nên tôn giáo đã giúp đưa bản chất con người thành những hiện thực ảo tưởng. Vấn đề được đăt ra chính là bản chất con người là gì, rất khó có thể trả lời, vì thực tế đều biết trong cặp phạm trù bản chất và hiện tượng thì hiện tượng là cái biểu hiện ra bên ngoài thực tế, là biểu hiện sự vận động của chính bản chất, nhưng bản chất về cơ bản nó có tồn tại nhưng lại không có thực thể, nó có tồn tại vì nó tồn tại mới tạo nên hiện tượng, nhưng thực sự nó không có thực thể. Cũng giống như lực hấp dẫn luôn tồn tại nhưng thực thể của lực hấp dẫn là gì, không thể thấy được và nó chỉ biểu hiện ra nhiều hiện tượng, Ví dụ như lực hút của trái đất. Cũng thế khối lượng là một bản chất, nhưng lại không có thực thể, người ta chỉ có thể xác định nó có tồn tại thông qua sự tồn tại của lực và năng lượng là những hiện tượng bên ngoài mà thôi. Chính vì vậy Khổng Tử đã từng dạy: nhân chi sơ tính bổn thiện, tức là tính ban đầu, hay cái gắn với con người là thiện, thiện là đặc tính bản chất con người (cũng giống như đã là vàng thì sẽ có ánh kim và dẫn điện), nhưng liệu thiện là gì có ai thấy được nó không. Không thể thấy được và con người ta chỉ có thể thấy được thiện thông qua những hiện tượng cụ thể như nhân từ, bác ái, sự dũng cảm, hay sự liêm sỉ v…v… Và tôn giáo với đã giúp cho bản chất con người thành những hiện thực ảo tưởng thông qua một hình tượng con người với đầy đủ tất cả những phẩm chất cao đẹp đó với những sự chuẩn mực đạo đức của nó. Tại sao lại gọi là hiện thực ảo tưởng vì lúc đó ở ngay chính Châu Âu, người ta dạy về tôn giáo, dạy về tin tưởng vào Đấng toàn năng nhưng không ai cho rằng con người có thể làm được như Đấng toàn năng đó. Con người ta có thể cả đời tin vào Chúa, vào đức hạnh của Chúa, nhưng không dám tin, dám nghĩ rằng mình được học giáo lý của Chúa để trở thành đáng toàn vẹn toàn mĩ như Chúa mà họ chỉ yên lòng với cái hiện thực họ mãi là con chiên ngoan đạo của Chúa. Và như vậy Chúa trời từ gần lại biến thành xa, mãi mãi chỉ là ảo tưởng trong tư duy của mỗi con chiên. Vậy nên câu cửa miệng của chính những giáo đồ là: chỉ có Chúa mới làm được như vậy còn chúng ta không thể nào làm. Vì đó là thánh nên thánh mới làm được như vậy còn chũng ta không có năng lực làm. Và đó là hiện thực mà lại ảo tưởng. Đến đây Marx đi đến một nhận xét đó chính là, đấu tranh chống tôn giáo gián tiếp là đấu tranh chống cái thế giới mà lạc thú tinh thần của nó là tôn giáo. Tức là không phải xóa bỏ tôn giáo mà là loại bỏ tính lạc thú tinh thần của chính xã hội châu Âu lúc bấy giờ, đó là loại bỏ tính ảo tưởng của nó mà ngược lại đưa nó trở thành một hiện thực thực sự, biến nó từ chính sự tồn tại trong tư duy thành cuộc sống thực sự. Điều này, dường như có vẻ trùng với suy nghĩ của Marx bởi ông là người coi trọng thực tiễn hơn vấn đề lý luận suông trong tư duy, và nó thể hiện qua chính câu nói của ông: “Các nhà triết học chỉ lo giải thích thế giới theo cách này hay cách khác. Vấn đề là cải tạo nó thế nào.”. Vậy nhưng do đâu mà con người ta lại biến tôn giáo thành một sự hiện thực trong ảo tưởng, điều này được Marx nói rất rõ ở đoạn tiếp theo, đó chính là do quá trình lao động sản xuất vật chất, do hiện thực xã hội đã đẩy nhân dân tìm đến những lạc thú tinh thần là tôn giáo, tìm đến những sự hiện thực ảo tưởng và sống mãi với chính ảo tưởng đó ở đoạn tiếp theo:
         Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy. Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân. Xóa bỏ tôn giáo, với tính cách là xóa bỏ hạnh phúc ảo tưởng của nhân dân, là yêu cầu thực hiện hạnh phúc thực sự của nhân dân. Yêu cầu từ bỏ những ảo tưởng về tình cảnh của mình cũng là yêu cầu từ bỏ cái tình cảnh đang cần có ảo tưởng. Do đó, việc phê phán tôn giáo là hình thức manh nha của sự phê phán cuộc sống khổ ải mà tôn giáo là vòng hào quang thần thánh của nó.
         Ở đoạn này, Marx đã vận dụng phép biện chứng để phản ánh hiện thực xã hội cũng như phản ánh chính sự phản ánh sự tha hóa của chính Tôn giáo. Nếu như trong một xã hội tư bản chủ nghĩa đầy rẫy những áp bức bóc lột bất công, nhân dân lao động giường như không tìm thấy được cho mình một cuộc sống tạm đủ. Đối với họ giường như việc lo cho đủ ba bữa cơm trong một ngày giường như quan trọng hơn bất cứ việc nào khác. Cũng như vậy, người dân lao động hàng ngày phải sống với trung bình từ 12-14 tiếng lao động trong công xưởng, thậm chí là 18-20 tiếng thì giường như họ không thể có lấy một đời sống tinh thần thực sự. Với sự bóc lột lao động đến mức cùng cực và kiệt quệ như vậy thì đời sống tinh thần của người dân cũng ngày càng nghèo nàn hơn. Karl Marx đã từng mô tả, cuộc sống của giai cấp vô sản dường như chỉ quay xung quanh việc lao động, ăn, ngủ và duy trì nòi giống. Ngoài 4 việc đấy ra thì giai cấp vô sản dường như chẳng còn một tý chút thời gian dư dả nào cả, vậy nên chính vì thế đời sống tôn giáo của họ cũng nghèo nàn như vậy. Con người ta chỉ chăm lo cho bữa ăn nhiều hơn là tuân theo những chuẩn mực đạo đức của tôn giáo, bởi lẽ trong nhận thức của họ thì bữa ăn là cái cần thiết tối thiểu còn không đủ thì làm sao có thể học theo những chuẩn mực đạo đức hay giáo lý tôn giáo. Vì vậy sự nghèo nàn của tôn giáo chỉ quay lại một niềm tin cảm tính duy nhất, đó là hãy tin vào Đấng toàn năng năng và Đấng toàn năng sẽ phù hộ cho bạn, còn lại thậm chí người dân còn chẳng thể nhận thức được Đấng toàn năng là ai, và dạy cho những gì. Thậm chí đến cả 10 điều răn của Chúa gửi cho Moses[ix] có lẽ nếu ở trong xã hội tư bản thì chỉ có thể là 1 tảng đá nên trưng bày trong viện bảo tàng cho đẹp bởi nhân dân lao động chẳng thể quan tâm đến nó là gì, và nó có gì. Sự nghèo nàn ấy của tôn giáo cũng chính là sự nghèo nản thực tế của xã hội, nhưng lại là sự phản kháng chống lại chính cái nghèo nàn ấy. Nhân dân lao động đã mất hết niềm tin, họ cảm thấy họ chỉ sống trong một xã hội áp bức và bất công, nhưng họ không tìm được cách giải quyết cho sự khổ đau về mặt vật chất, vậy nên họ tìm đến tôn giáo như một liều thuốc giảm đau, giúp họ tạm thời quên đi những nỗi đau hàng ngày họ đang phải đối diện. Vậy nên Marx một lần nữa khẳng định, tôn giáo chính là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là cách để họ tạm thời lấy lại được sự sống sau những giờ lao động mệt mỏi và căng thẳng. Cũng đồng thời đó là trái tim của thế giới không có trái tim, là tinh thần của trật tự không có tinh thần. Tại sao lại như vậy, bởi lẽ nếu không có tôn giáo thì thật sự nhân dân lao động sẽ không còn là con người, họ sẽ biến thành những cái máy vô cảm làm việc trong các băng truyền hay con rô bốt không có trái tim giống như trong câu chuyện phù thủy xứ Oz[x], và cũng chính trong xã hội đó, một xã hội mà đời sống tinh thần nghèo nàn nhất thì tôn giáo lại món ăn tinh thần duy nhất mà họ bởi vậy mới là tinh thần của trật tự không có tinh thần. Có thể nói ở tôn giáo, con người lao động mới tìm thấy được phần người ít ỏi còn sót lại ở trong cuộc sống của họ, để họ hiểu rằng họ không phải là những cỗ máy vô cảm, mà họ là con người, họ có tình cảm, có lý trí và có cả sự nhận thức. Những điều mà một con rô bốt không thể tìm thấy trên băng chuyền sản xuất hay những người công nhân cũng vậy. Đến đây Karl Marx đưa đến một kết luận nổi tiếng: 
“Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”
         Có thể thấy mâu thuẫn của vấn đề đã được đưa lên đến đỉnh điểm, dường như nhiều người nghe đến câu nói này sẽ nghĩ ngay đến Marx đang ám chỉ tôn giáo là một thứ tiêu cực, gây tổn hại đến nhân dân và cần phải xóa bỏ. Hoặc theo một hình tượng khác thì tôn giáo là tiêu cực của xã hội cũng giống như thuốc phiện vậy. Nhưng thực chất thì không hẳn như thế, để hiểu thêm điều này cho rõ hơn, chúng ta hãy đến với một đoạn trong cuốn “Tình cảnh giai cấp công nhân Anh” của Engels[xi] có viết như sau:
         Ngoài ra, còn nhiều nhân tố khác làm cho sức khoẻ của một số đông công nhân giảm sút. Trước hết là tệ nghiện rượu. Mọi thứ hấp dẫn và cám dỗ liên kết lại để lôi kéo người lao động tới chỗ rượu chè. Đối với họ, hầu như chỉ có một nguồn vui duy nhất là rượu mạnh, và mọi thứ dường như cùng nhau đẩy họ đến với nó. Người công nhân khi tan tầm về nhà, đã mệt mỏi rã rời; mà nhà cửa thì thiếu tiện nghi, lạnh lùng, ẩm thấp, bẩn thỉu; anh ta rất cần tiêu khiển, cần cái gì đó để cảm thấy còn đáng làm việc, cái gì đó làm dịu được viễn cảnh của ngày mai khổ cực; sự mệt mỏi, bực dọc và ưu phiền của anh ta, một phần do sức khoẻ kém, nhất là vì tiêu hoá không tốt gây ra, đã tăng đến cực độ, do tất cả các điều kiện sinh hoạt khác của anh ta: đời sống bấp bênh, phụ thuộc vào mọi thứ may rủi, không thể tự làm gì để cải thiện tình cảnh của mình; cơ thể của anh ta, suy yếu vì không khí và thức ăn tồi tệ, đòi hỏi mãnh liệt một chất kích thích nào đó từ bên ngoài; nhu cầu xã giao của anh ta chỉ có thể được thoả mãn ở quán rượu, vì không còn nơi nào khác để anh ta gặp bạn bè. Thế thì anh ta làm sao tránh được sự lôi cuốn mạnh mẽ của rượu và chống lại được sự cám dỗ ấy? Ngược lại, ở hoàn cảnh ấy, phần lớn người lao động, do nhu cầu thể chất và tinh thần, nhất định phải sa vào rượu chè. Ngoài các lí do có thể nói là tự nhiên ấy, còn cả gương xấu của số đông, sự thiếu giáo dục, không thể giữ cho thanh niên tránh khỏi cám dỗ; nhiều khi lại là ảnh hưởng trực tiếp, khi cha mẹ nghiện rượu tự mình đem rượu cho con uống; niềm tin rằng: nhờ hơi men có thể lãng quên, ít ra là trong vài giờ, những khổ cực và áp bức của cuộc đời; và còn hàng trăm tình huống khác, chúng tác động mạnh đến nỗi thật không thể trách người lao động vì họ thích uống rượu. Ở đây nghiện rượu không còn là một tật xấu, mà người mắc phải có thể bị chê trách; nó là một hiện tượng tất nhiên, hậu quả không thể tránh khỏi của những điều kiện nhất định, tác động tới một đối tượng mất hết ý chí của mình. Phải chịu trách nhiệm về việc này, chính là những kẻ đã biến người lao động thành đối tượng như thế. Nhưng bản thân sự nghiện rượu khiến thể xác và tinh thần của nạn nhân phải chịu tác động hủy hoại, điều đó cũng tất nhiên như việc đại đa số công nhân nghiện rượu. Nó làm tăng nguy cơ mắc các bệnh do điều kiện sinh hoạt của công nhân gây nên; tạo điều kiện cực kì thuận lợi cho bệnh phổi, bệnh đường ruột, kể cả thương hàn, phát sinh và lan rộng.
         Một nguyên nhân khác của tình trạng sức khỏe tệ hại của giai cấp công nhân là: khi ốm đau, họ không thể được thầy thuốc giỏi cứu chữa. Thực ra, một số cơ quan từ thiện đã tìm cách bù đắp thiếu sót ấy; như bệnh viện Manchester, hàng năm chữa cho 22.000 bệnh nhân, trong đó có một số được điều trị ngay tại bệnh viện, số khác được khám và cấp thuốc. Nhưng với một thành phố mà Gaskell5* ước lượng là hàng năm có đến 3/4 dân số cần được chăm sóc y tế, thì điều ấy có thấm vào đâu? Bác sĩ ở Anh lấy tiền khám chữa bệnh rất cao, người lao động không trả nổi. Do đó họ đành không chạy chữa gì, hoặc buộc phải tìm đến những tên lang băm lấy công rẻ, và những thứ thuốc bịp bợm, chung quy lợi ít hại nhiều. Trong tất cả các thành phố ở Anh có rất nhiều kẻ như vậy, họ kiếm khách trong những giai cấp nghèo khổ nhất, bằng mọi thứ quảng cáo, áp-phích, và các mánh khoé khác. Ngoài ra, người ta còn bán rất nhiều thứ "thuốc được cấp bằng" (patent medicines), trị bách bệnh: Thuốc viên Morrison, Thuốc viên Bổ khí Parr, Thuốc viên Bác sĩ Mainwaring và hàng ngàn loại thuốc viên, tinh dầu, dầu thơm khác; cái nào cũng có tác dụng chữa khỏi đủ thứ bệnh. Những thuốc ấy thực ra ít có chất gây hại trực tiếp, nhưng dùng lâu và dùng nhiều thì vẫn có hại cho cơ thể; và vì người lao động, vốn không thạo về thuốc men, lại được tuyên truyền là phải dùng chúng càng nhiều càng tốt, nên không có gì lạ khi họ nốc hàng loạt thuốc ấy, mà chẳng biết có nên hay không. Nhiều khi chủ xưởng Thuốc viên Bổ khí Parr trong một tuần bán được đến 20-25 nghìn hộp thuốc thần hiệu ấy, thứ thuốc mà người này dùng để trị táo bón, người kia dùng để chữa ỉa chảy, người khác uống khi bị sốt, suy nhược toàn thân và mọi loại bệnh. Cũng như nông dân Đức đến những mùa nào đó thì đặt bầu giác hoặc chích máu, công nhân Anh uống những "thuốc được cấp bằng" chỉ để làm hại chính mình, đồng thời làm đầy túi tiền của các chủ xưởng bào chế. Trong đó, có hại bậc nhất là một thứ thuốc nước, chế bằng các chất thuốc phiện, chủ yếu là laudanum[xii], và đem bán rộng rãi với cái tên "dung dịch bổ Godfrey". Những phụ nữ làm việc ở nhà và phải nuôi con mình hoặc con người khác, thường cho trẻ uống thứ thuốc ấy để chúng ngủ yên, hoặc như nhiều người tưởng, để chúng khoẻ thêm. Người ta thường cho trẻ con dùng thuốc ấy ngay từ khi mới đẻ, không hề để ý đến loại thuốc "bổ" ấy có hại hay không, và cứ tiếp tục cho uống đến khi chúng chết. Cơ thể đứa trẻ càng ít thụ cảm với tác dụng thuốc phiện thì người ta càng tăng liều dùng. Nếu thuốc ấy không có tác dụng nữa thì họ cho trẻ uống laudanum nguyên chất, thường một lần 15-20 giọt. Viên dự thẩm ở Nottingham đã xác nhận trước một tiểu ban của chính phủ7* rằng, theo lời một dược sĩ, thì trong một năm hắn đã dùng đến 13 tạ si-rô để chế ra "dung dịch bổ Godfrey". Cách điều trị ấy gây ra hậu quả thế nào đối với trẻ con, điều đó cũng dễ thấy. Chúng dần trở nên xanh xao, uể oải, yếu ớt, đa số chết dưới hai tuổi. Thứ thuốc này rất thông dụng trong mọi thành phố lớn và khu công nghiệp ở Anh.
         Có thể thấy rằng thông qua đoạn trích dẫn trên thì rõ ràng tình cảnh giai cấp lao động thời của Karl Marx và Engels là vô cùng khốn khổ, điều này dẫn đến họ tìm đến nghiện rượu như một loại thú vui tinh thần vì ở đó họ còn có thể giao tiếp xã hội với nhau, họ còn tìm thấy phần con người ở trong chính họ. Tệ nghiện rượu cũng giống như thú vui tinh thần tôn giáo đi nhà thờ vậy để có thể tìm thấy và cảm nhận thấy mình là con người. Vậy nên khi ví tôn giáo là thứ gây nghiện thì thực chất Marx lại muốn ám chỉ rằng vào thời đó là lúc mà con người còn cảm thấy họ là chính con người và họ có thể tìm được bản thân mình ở những thú vui tình thần còn lại duy nhất này mà không phải là máy móc hay con vật. Nhưng xa hơn nữa nếu đọc ở dưới, bạn có thể thấy trong điều kiện nghèo nàn vật chất thì thời của Marx người công nhân và nhân dân lao động còn không có được những điều kiện chăm sóc y tế tối thiểu. Chính vì vậy nên họ tìm đến laudanum hay là một loại cồn thuốc phiện. Cồn thuốc phiện ở thế kỷ 19 được dùng như một thứ thuốc chữa bách bệnh, từ bệnh tiêu chảy, ho, cảm cho đến bệnh đau xương, đau khớp, bởi vì thực chất cồn thuốc phiện không hề chữa bệnh là giúp cho xoa dịu đi những nỗi đau đớn vì bệnh tật của con người. Vậy nên Marx và Engels đều khẳng định chúng dường như vô hại và có tác dụng, nhưng nó không phải là thuốc, vì vậy nó không giải quyết được bệnh trạng của con người và con người vẫn phải chịu bệnh trạng như vậy cuối cùng vẫn chết, có chăng chỉ là sự đau đớn giảm đi mà thôi. Cũng thế tôn giáo là liều thuốc giảm đau hữu hiệu đối với những đau khổ của giai cấp vô sản thời bấy giờ, là món ăn tinh thần an ủi cho chính nhân dân lao động. Nhưng nó không thể giải quyết được sự đau khổ mà chỉ giúp người ta giảm bớt nỗi đau khổ với một niềm tin cảm tính còn lại duy nhất vào các đấng toàn năng sẽ cứu vớt linh hồn họ (bởi bản thân tôn giáo lúc đó cũng nghèo nàn như chính tác dụng chữa bệnh của cồn thuốc phiện vậy). Vậy nên và như vậy con người vẫn phải đối mặt với những đau khổ đó và muốn giải quyết nỗi đau đó thì không gì hơn là phải tìm lại chính mình, tìm lại được bản thân con người, đưa một hiện thực ảo tưởng thành một hiện thực thực sự dù nó không có thực thể. Cũng giống như một người bệnh không thể dùng mãi cồn thuốc phiện mà phải đứng lên để tự đi khám để biết được bệnh của mình và tìm ra loại thuốc có thể chữa bệnh cho chính mình. Không ai có thể làm thay họ việc đó, kể cả bác sĩ, bởi nếu bệnh nhân không chịu khám thì bác sĩ mãi mãi chẳng thể cho họ biết họ mắc bệnh gì và cần dùng thuốc gì. Vậy nên Marx không hề phê phán tôn giáo là thứ hại nhân dân, trái lại ông đang mô tả thực sự đó là liều thuốc tính thần còn lại duy nhất để giúp người dân tìm lại được chính họ còn là con người trong một xã hội vốn không có tình người, là liều thuốc giảm đau duy nhất đối với những đau khổ mà nhân dân lao động đang phải gánh chịu trong chính xã hội tư bản.
         Sự phê phán đã vứt bỏ khỏi những xiềng xích các bông hoa giả trang điểm cho chúng, không phải để loài người cứ tiếp tục mang những xiềng xích ấy dưới cái hình thức chẳng vui thích và thú vị gì, mà để loài người vứt bỏ chúng đi và giơ tay hái lấy bông hoa thật. Việc phê phán tôn giáo đang làm cho con người thoát khỏi ảo tưởng, để con người suy nghĩ, hành động, xây dựng tính hiện thực của mình với tư cách là con người thoát khỏi ảo tưởng, trở nên có lý tính; để con người xoay quanh bản thân mình và cái mặt trời thật sự của mình. Tôn giáo chỉ là cái mặt trời ảo tưởng xoay quanh con người chừng nào con người chưa bắt đầu xoay quanh bản thân mình.
         Ở đoạn tiếp theo này, ta có thể thấy Karl Marx bắt đầu chỉ ra việc phê phán tôn giáo thực chất không phải là xóa bỏ tôn giáo. Bởi lẽ ở ngay câu đầu ta có thể thấy Marx đưa ra những ví dụ ẩn dụ, cái xiềng xích trói buộc con người chính là chủ nghĩa tư bản và hiện thức bóc lột nặng nề, cái bông hoa giả chính là những nhận thức tôn giáo ngay tại nước Đức thời bấy giờ. Nhận thức tôn giáo mang tính lầm lạc và cứu rỗi con người về mặt tinh thần nhưng không thể nào cứu rỗi chính bản thân con người đó. Đó chính là hiện thực của các nước Châu Âu thế kỷ 19 khi mà tôn giáo chỉ còn là cái vỏ bọc để bảo vệ cho chế độ bóc lột của CNTB, tôn giáo mất đi cái bản chất giáo dục nhân cách của con người và chỉ còn là những hiện tượng tinh thần mang tính ảo tưởng. Và nhiệm vụ của việc phê phán tôn giáo chính là bản thân con người phải vứt bỏ những lầm lạc ảo tưởng mà do chính các tôn giáo đang sử dụng để con người quên đi những nỗi đau khổ thực tại mà họ đang phải đối mặt. Đồng thời Marx cũng nhấn mạnh đó là con người phải bỏ đi những bông hoa giả và lấy những bông hoa thực, những bông hoa đẹp đẽ vẫn là hình ảnh ẩn dụ của chính tôn giáo, vậy việc phê phán tôn giáo chính là bỏ đi tôn giáo ảo tưởng để đi đến tôn giáo thực tại. Các tôn giáo thường nói về thiên đường, đó là chỉ cần con người nghe lời chúa thì họ sẽ được lên thiên đường và đó là điều mà nhà thờ đã và đang dạy họ. Nhưng để làm cụ thể như thế nào mới được lên thiên đường thì nhà thờ lại không chỉ ra cho họ. Chính vì vậy thiên đường mãi mãi là ảo tưởng và bản thân người dân lao động vẫn hàng ngày sống cảnh nghèo nàn, thất học, đói kém. Họ không dám và không thể tự xây dựng ước mơ cho chính mình. Và nhiệm vụ lấy lại được bông hoa thật là thực sự người ta phải đưa tôn giáo thực sự với ý nghĩa tôn chỉ ban đầu là giáo dục nhân cách đạo đức cho chính con người vào thực tế. Có lẽ một ví dụ khá hay khi chúng ta liên hệ điểm này tới tác phẩm: “Những người khốn khổ của Victor Hugo, đó là khi tên tội phạm Jean Vajean ăn cắp toàn bộ những bộ đồ bạc trong một nhà thờ và bị bắt lại. Thì chính vị cha sứ lại bảo rằng ông ta cho Jean Vajean và bản thân Jean Vajean lại để quên đôi chân nến bằng bạc. Điều này đã thực sự thay đổi chính tâm hồn của Jean Vajean giống như lời người cha sứ nói: Ta đã mua linh hồn của ông cho Chúa rồi. Một sự thay đổi trong nhận thức của một con người cá nhân đã giúp chính ông ta vượt lên trên khỏi cuộc sống đó là sống với một con người theo chúa thực sự là thị trưởng Madeleine và Jean Vajean sau này. Tuy nhiên xét cho đến cùng Jean Vajean vẫn chỉ là sự cứu rỗi của chính một linh hồn cá nhân chứ không phải sự cứu rỗi của những người cùng khổ ở trong xã hội.”. Vậy làm cách nào để có thể làm được sự cứu rỗi như vậy, cái mà Marx chỉ ra ở đây, liều thuốc thực sự cho căn bệnh này của xã hội chính là sự tự ý thức của con người. Con người sẽ dần phải thực sự xóa bỏ những niềm tin cảm tính của chính mình để xây dựng một con người hiện thực, con người với niềm tin lý tính. 
         Đây là điểm quan trọng nhất mà Marx muốn nói đến, nhưng giường như nó đã bị chính rất nhiều người dù vô tinh hay cố ý lãng quên thật sự. Sự khác biệt giữa niềm tin cảm tính và niềm tin lý tính đó chính là không có cảm xúc trong niềm tin, một niềm tin lý tính là niềm tinh vào lý luận và thực tiễn mà không có một sự đan xen cảm xúc yêu hay ghét, đó là niềm tìn vào lẽ phải theo đúng hiện thực của lẽ phải, của những quy luật vận động của giới tự nhiên và xã hội chứ không phải một niềm tin cảm tính tức một niềm tin mù quáng không có cơ sở. Niềm tin cảm tính thực tế lại là căn bệnh cố hữu của chính những đa phân mọi người trong xã hội. Họ không cần phải có thực tiễn và lý luận, họ tin theo vì họ có cảm tình với nó. Và điểm khác biệt mấu chốt là niềm tin cảm tính thì thay đổi theo thời gian vì nó phụ thuộc vào trạng thái cảm xúc của con người rất thất thường. Còn niềm tin lý tính không có sự thay đổi bởi vì nó bám chặt vào những quy luật vận động của giới tự nhiên và xã hội. Và bản thân các quy luật đó luôn vận động để các hiện tượng xã hội biến động nhưng sự vận động của quy luật lại là bất biến không thay đổi, tức sự vận động là diễn ra không ngừng, nó có thể đứng yên nhưng nó không ngừng lại. Cái niềm tin lý tính gọi một cách đơn giản đó là niềm tin thuận theo quy luật tự nhiên và để nhận thức được chính các quy luật tự nhiên thì lại đỏi hỏi con người phải có một tư duy lí tính, để loại bỏ tất cả những yếu tố gây nhiễu trong chính tư duy của họ, tức con người phải là con người lý tính. Điểm biện chứng hay nhất của Marx trong đoạn này nằm ở chỗ sự thay thế niềm tin cảm tính bằng niềm tin lý tính. Nói một cách đơn giản: hãy làm theo điều Chúa dạy để sống và nhận thức như Chúa (một con người có thật đã từng tồn tại và chỉ dạy cho con người) thay vì tin vào những điểm ảo tưởng mà chính nhà thờ thời bấy giờ đang vẽ ra như một công cụ chính trị để hạn chế nhận thức của nhân dân lao động, biến họ trở nên mù quáng và không có lý tính. Đây là điểm mà gần như các nhà thờ trong CNTB đã và đang dạy con người bởi lẽ thực sự tư tưởng của nhà thời lúc bấy giờ vốn không phải là tư tưởng của Chúa mà là tư tưởng của chính giai cấp tư sản đang thống trị xã hội. Vậy nên sự tha hóa trong chính nhà thờ đã và đang phá hủy những tôn giáo thực sự mà biến nó trở thành những hình ảnh tôn giáo mà thôi. Và cái ảnh có thể giống vật thật nhưng không bao giờ có thể là vật thật vì nó không bao giờ có tính chất của vật thật. Và điểm nghịch lý đã bị hiện rõ trong chính hình ảnh tôn giáo hiện nay đó chính là: nhân dân lao động luôn tin tưởng vào Chúa nhưng họ không biết phải làm thế nào để có được hạnh phúc mà Chúa đã dậy, còn chính nhà thờ và giai cấp tư sản luôn cố gắng nhồi nhét vào trong đầu của nhân dân lao động những tư tưởng họ bảo là của Chúa thì thực chất họ lại không hề tin vào Chúa bởi lẽ bản thân nếu họ tin vào Chúa thì xã hội bóc lột có giai cấp vốn sẽ không thể tồn tại. Và vì đó là những tư tưởng do chính họ đưa ra nên họ hiểu và họ không tin vào chính những tư tưởng đó cũng giống như một tác giả viết truyện viễn tưởng rẻ tiền thì không bao giờ tin vào chính những câu truyện do họ tự bịa đặt mà ra.
         Vậy nên khi mọi mâu thuẫn đã được bộc lộ rõ thì cuối cùng Marx chỉ ra việc phê phán tôn giáo cuối cùng về bản chất chính là:
         Do đó, nhiệm vụ của lịch sử - sau khi cái chân lý của thế giới bên kia đã mất đi - là xác lập chân lý của thế giới bên này. Sau khi cái hình tượng thần thánh của sự tự tha hóa của con người đã bị bóc trần thì nhiệm vụ cấp thiết của cái triết học đang phục vụ lịch sử là bóc trần sự tự tha hóa trong những hình tượng không thần thánh của nó. Như vậy, phê phán thượng giới biến thành phê phán cõi trần, phê phán tôn giáo biến thành phê phán pháp quyền, phê phán thần học biến thành phê phán chính trị.
         Nhiệm vụ cuối cùng thực sự của phê phán tôn giáo lại không nhằm vào tôn giáo, mà là phá bỏ chính cái ảo tưởng do chính nhà thờ đang vẽ lên tại châu Âu lúc bấy giờ, và sau khi chính những hình ảnh tha hóa của con người trong tôn giáo bị bốc trần thì cần phải dựa trên những cơ sở đó để phê phán chỉ ra những điểm đau khổ thực tại của xã hội TBCN thời bấy giờ, đó chính là bóc trần sự tư tha hóa trong những hình tượng tôn giáo không thể thần thánh của nó. Và việc phê phán tôn giáo như Marx nói thực chất cuối cùng vẫn là hình ảnh bên ngoài, cái nội dung thực sự bên trong chính là phê phán hiện thực khổ đau của nhân dân lao động, việc phê phán tôn giáo cuối cùng lại biến thành phê phán pháp quyền tức phê phán chính thể chế pháp quyền TBCN đã và đang cố gắng bảo vệ cái xã hội TBCN lúc bây giờ. Và thần học đã bị bóc trần cái vỏ bề ngoài hào nhoáng của nó để thực sự nhìn thấy cái bản chất chính trị lưu manh của chính giai cấp tư sản lợi dụng thần học để bảo vệ sự bóc lột. Và phê phán thần học cuối cùng lại trở thành phê phán chính trị. Từ đó có thể kết luận lại rằng chính mặc dù viết dưới dạng là phê phán tôn giáo như một nhận xét về hoàn cảnh phê phán tôn giáo thực tại của xã hội Đức lúc bấy giờ cũng như cả châu Âu nhưng Marx lại đã chỉ ra bản chất của nó là sự phê phán triết học pháp quyền Hegels, phê phán cái vỏ duy tâm thần bí của Hegels chỉ để bảo vệ nhà nước và chế độ thống trị của Phổ, cái triết học pháp quyền đang bảo vệ CNTB trước những cơn giận dữ và đau khổ của nhân dân lao động. Triết học pháp quyền đó thực sự giống như một loại cồn thuốc phiện của nhân dân lao động nó giúp xoa dịu nỗi đau của họ những cũng khiến họ ngày càng đọa lạc sâu hơn trong xã hội nhiều khổ đau.
3. Quan điểm và thái độ của những người cộng sản hiện nay đối với các tôn giáo
3.1. Không thể xóa bỏ niềm tin tôn giáo của người dân
         Hiện nay có rất nhiều quan điểm mang tính tả khuynh và cực đoan của chính những người theo cộng sản, họ cho rằng cần phải mạnh mẽ xóa bỏ tôn giáo, hoặc đàn áp tôn giáo. Quan điểm này hiện cũng khá phổ biển ở Việt Nam khi nhiều người tự xưng là cộng sản lại rất muốn tiêu diệt, đàn áp tôn giáo. Đặc biệt là vấn đề đối với những người theo Công giáo, Tiên Lành hay Hồi giáo bởi lẽ nhân dân lao động thường có niềm tin cảm tính đối với những tôn giáo này. Thậm chí niềm tin này mang tính chất cực đoan rõ rệt, đây cũng chính là điểm hở khiến cho các thế lực thù địch luôn lợi dụng tự do tôn giáo để chống phá chính quyền bởi chúng lợi dụng chính những mâu thuẫn đang nằm ẩn sâu trong nhân dân theo đạo với chính quyền. Và như vậy những hành động cực đoan này chỉ góp phần khiến cho mâu thuẫn xã hội ngày càng sâu sắc hơn thôi. Nên nhớ rằng đối với những người có niềm tin tôn giáo thì Chúa còn có thể đứng cao hơn pháp luật và không ai có quyền phá vỡ niềm tin của chính họ. Càng phá vỡ niềm tin của chính họ thì ta càng đẩy người dân rời xa chính quyền hơn mà thôi. Vậy nhiệm vụ và thái độ của những người cộng sản đối với niềm tin tôn giáo là phải như thế nào:
         - Thứ nhất: Đối với tôn giáo thì thay vì xóa bỏ niềm tin của người dân thì hãy chấp nhận niềm tin tôn giáo đó như một sự thật đang tồn tại và là quy luật chung của xã hội. Cũng giống như Marx từng khẳng định ý thức xã hội không thể vượt qua tồn tại xã hội. Những người theo tôn giáo cũng vậy, họ đi theo tôn giáo vì niềm tin của họ thực sự được xây dựng ở trên chính điều kiện hoàn cảnh sống của họ mà cụ thể ở đây chính là ngay từ lúc sinh ra cho tới lúc mất đi, gần như hoàn cảnh sống của họ đã gắn liền với tôn giáo, gắn liền với cha mẹ và họ hàng của họ. Đây là điều không thể tránh khỏi và gần như rất khó để thay đổi vì vậy đừng đem những thứ gọi là luật pháp hay chính trị áp đặt lên niềm tin của những người này. Hãy chấp nhận như chính một sự thật hiển nhiên.
         - Thứ hai: Hãy xóa bỏ niềm tin cảm tính của những người theo tôn giáo và xây dựng nên niềm tin lý tính cho họ. Điều này đỏi hỏi một quá trình giáo dục lâu dài và gắn liền với thực tế hoạt động tôn giáo. Bản thân Marx chưa bao giờ cấm những người cộng sản không được theo tôn giáo, vậy nên chính những người cộng sản, những người đang có một niềm tin lý tính thật sự phải đi sâu tìm hiểu đến từng tôn giáo gắn liền với đời sống của nhân dân. Có như vậy mới có thể thực hiện việc giáo dục người dân mà không hề xóa bỏ niềm tin của họ, chỉ là chuyển đổi niềm tin từ cảm tính sang lý tính thôi. Và nếu không xóa bỏ niềm tin tôn giáo của nhân dân thì chính những người dân sẽ không bao giờ đứng và thế đối kháng với chính quyền bao giờ cả. Đồng thời việc phát triển an sinh giáo dục cho người dân là vô cùng cần thiết để có thể xóa bỏ những tư tưởng phản động được tuyên truyền trong giáo dân thông qua các bài giảng tôn giáo mà phải biến những bài giảng tôn giáo trở thành hiện thực, và gắn liền với thực tế của đất nước, giúp người dân hiểu rõ hơn về đất nước, về chính sách của những người cộng sản cũng thông qua những bài giảng về tôn giáo. Thực tế ngay trong Quốc tế Cộng sản xưa và lực lượng cộng sản hiện nay trên thế giới vẫn có rất nhiều bộ phận là những người theo các tôn giáo khác nhau và vẫn có thể hoạt động tốt.
         Trên đây là hai ý kiến về thái độ của người cộng sản đối với những tôn giáo vẫn và đang tồn tại trên thực tế. Cũng là để tránh những trường hợp tả khuynh hay hữu khuynh trong chính tư tưởng của những người cộng sản. Từ đó có thể có cái nhìn khác toàn diện hơn về chính những người đang theo các tôn giáo khác.
3.2. Cần có sự điều chỉnh cân bằng giữa tôn giáo và khoa học.
         Có một thực tế nữa đang diễn ra hiện nay đó là sự đối lập sâu sắc giữa tôn giáo và khoa học. Đây là một vấn đề nghiêm túc cần phải xem xét và thận trọng trong việc giải quyết mâu thuẫn. Thế kỉ 20-21 là thế kỷ phát triển của khoa học kỹ thuật (KHKT), sự phát triển mạnh mẽ của KHKT đã khiến cho trào lưu nghi ngờ và bài xích tôn giáo ngày càng gia tăng. Đồng thời cũng khiến cho mâu thuẫn tôn giáo và chính nhà nước ngày càng tăng cao. Vậy cần phải giải quyết mâu thuẫn này như thế nào. Để giải quyết dược vấn đề này, chúng ta cần phải xem xét, thực chất dù KHKT phát triển đến đâu thì vẫn có những điều KHKT không thể giải thích, chính vì vậy con người ta có thể tìm đến tôn giáo như một cách giải thích hợp lý đối với các hiện tượng tự nhiên. Đồng thời bên cạnh đó cũng tồn tại rất nhiều hiện tượng mà bản thân tôn giáo và khoa học có sự giải thích giống nhau hoặc chính tôn giáo đi trước khoa học, soi sáng cho khoa học. Vậy nên không thể dùng khoa học để phủ định sạch trơn tôn giáo mà phải biết rằng cả tôn giáo và khoa học đều là hai mặt đối lập nhau của một thể thống nhất, luông đấu tranh và thống nhất với nhau, bổ sung cho nhau. Chính vì vậy nên xóa bỏ tôn giáo cũng đồng nghĩa xóa bỏ cả khoa học vì khi tôn giáo không tồn tại nữa thì khoa học cũng không tồn tại với tư cách là mặt đối lập với tôn giáo. Và điều đó đồng nghĩa là khi đó khoa học giải thích được hết tất cả mọi sự vật hiện tượng rồi mà không cần tôn giáo thì khoa học sẽ ngừng lại và không tiến bộ nữa nhưng thực tế xã hội là luôn vận động và tiến lên và khoa học cũng sẽ như vậy nên sự tồn tại của tôn giáo là cái tất yếu để cho khoa học tồn tại và phát triển. Bên cạnh đó cũng cần phải xem xét sự phê phán mạnh mẽ nhất của khoa học đối với tôn giáo xuất phát từ đâu, liệu có phải từ bản thân các nhà khoa học hay không vậy. Thực chất là xuất phát từ chính những người không hiểu về khoa học mà đặt niềm tin mù quáng vào khoa học, cho rằng khoa học là tất cả. Những người này đã và đang tạo nên một thứ tôn giáo mới đó là tôn giáo khoa học và nhiệm vụ của tôn giáo khoa học là xóa bỏ các tôn giáo khác, vì thế họ tận dụng Marx và lý luận Marx như một công cụ đắc lực nhất phục vụ cho hoạt động phá bỏ tôn giáo của họ. Tuy nhiên xét cho đến cùng thì tôn giáo khoa học cũng là một thứ tôn giáo và cái Marx bảo xóa bỏ là niềm tin cảm tính và thay bằng niềm tin lý tính chính vì vậy việc thay thế niềm tin lý tính vào trong khoa học thay cho niềm tin cảm tính sẽ xóa bỏ được cái tôn giáo khoa học. Một cơ sở khác cho tôn giáo khoa học chính là thuyết hoài nghi luận, bản thân khoa học được bắt đầu từ những câu hỏi nghi vấn, chính vì vậy thuyết hoài nghi luận đã nâng khoa học lên thành tôn giáo khoa học. Những người theo thuyết hoài nghi luận đều nghi ngời mọi thứ, trừ niềm tin cảm tính của chính họ vào khoa học. Mà công cụ tốt nhất để hạn chết thuyết hoài nghi luận lại chính là phép tư duy biện chứng. Việc xây dựng tư duy biện chứng sẽ giúp cho thuyết hoài nghi luận phải xem xét lại sự hoài nghi của chính họ và từ đó tạo tiền đề cho sự phát triển tư duy của loài người lên một tầm cao mới, tuy duy biện chứng và niềm tin lý tính.
         Kết luận lại, có thể thấy rằng mặc dù câu nói “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” đã được Marx sử dụng trong tác phẩm góp phần phê phán triết học pháp quyền Hegels tuy nhiên câu nói này đang trở thành công cụ mà những người vô thần hoặc tả khuynh trong hoạt động bài trừ tôn giáo của chính họ. Tuy nhiên nếu được đặt trong chính hoàn cảnh ra đời của câu nói thì Marx chưa bao giờ đưa ra sự bài trừ tôn giáo cả, cái mà ông phê phán thực chất là nền triết học pháp quyền của Hegels cũng như những ảo tưởng sinh ra từ hình thức tôn giáo. Những ảo tưởng này theo Marx có thể xoa dịu những nối thống khổ của nhân dân lao động nhưng không thể giải quyết được những nỗi thống khổ này triệt để. Mà muốn giải quyết những sự khổ đau này thì thực chất lại phải chính do người dân phải tự thực hiện và nhân dân lao động phải thoát khỏi hạnh phúc ảo tưởng và đem lại hạnh phúc thực sự cho chính mình thông qua việc phê phán chính nền chính trị xã hội TBCN đương thời. Đó cũng là điều mà Marx muốn nói xuyên suốt đối với câu nói này.
Hà Nội, ngày 15 tháng 8 năm 2017
Lê Quang Trung




Chú thích

[i]  Chính thống giáo: Chính thống giáo Đông phương là nhánh Kitô giáo lớn thứ nhì trên thế giới, sau Giáo hội Công giáo Rôma. Đây là nhóm các giáo hội Kitô giáo đại diện cho truyền thống Kitô giáo Đông phương. Chính thống giáo truy nguyên nguồn gốc của họ về Kitô giáo sơ khai và tuyên bố họ mới là sự tiếp nối duy nhất và chính thống của giáo hội do Chúa Kitô thiết lập, xem chính mình là Giáo hội Duy nhất, Thánh thiện, Công giáo và Tông truyền
[ii] Công giáo: Giáo hội Công giáo hiện là nhánh Kitô giáo lớn nhất, với trên một tỉ thành viên, chiếm hơn một nửa số Kitô hữu và 1/6 dân số thế giới.[1][2] Họ coi mình là giáo hội duy nhất do chính Chúa Giêsu Kitô (Kitô hay Cơ Đốc, trước đây phiên âm là Kirixitô đều mang nghĩa là "đấng được xức dầu")[3] thiết lập dựa trên các tông đồ của Chúa Giêsu, giáo hoàng là người kế vị tông đồ trưởng Phêrô, còn các Giám mục là những người kế vị các tông đồ khác. Dưới sự lãnh đạo của Giáo hoàng, Giáo hội Công giáo xác định nhiệm vụ của họ là truyền bá Phúc Âm của Chúa Giêsu Kitô, cử hành các bí tích
[iii] Thái Bình Thiên Quốc: (chữ Hán phồn thể: 太平天國, chữ Hán giản thể: 太平天国; 1851–1864) là một nhà nước trong lịch sử Trung Quốc được hình thành từ cuộc nổi dậy của nông dân do Hồng Tú Toàn (洪秀全) cầm đầu vào giữa thế kỷ 19. Thái Bình Thiên Quốc có lãnh thổ trải rộng từ sông Dương Tử xuống phía nam Trung Quốc với trên 16 tỉnh và hơn 600 thị, có thủ đô là Thiên Kinh (Nam Kinh)
[iv] Georg Wilhelm Friedrich Hegel ( /ˈheɪɡəl/;[1] tiếng Đức: [ˈɡeɔɐ̯k ˈvɪlhɛlm ˈfʁiːdʁɪç ˈheːɡəl]; 27 tháng 8 năm 1770 - 14 tháng 11 năm 1831) là một nhà triết học người Đức. Cùng với Johann Gottlieb Fichte và Friedrich Wilhelm Joseph Schelling, Hegel được coi là người sáng lập ra chủ nghĩa duy tâm Đức.
[v] Immanuel Kant sinh ngày 22 tháng 4 năm 1724 tại Königsberg; mất ngày 12 tháng 2 năm 1804 tại Königsberg, được xem là một trong những triết gia quan trọng nhất của nước Đức, hơn nữa là một trong những triết gia lớn nhất của thời kỳ cận đại (Neuzeit), của nền văn hóa tân tiến và của nhiều lĩnh vực nhân văn khác. Sự nghiệp triết học của ông được biết đến qua hai giai đoạn: "tiền phê phán" và sau năm 1770 là "phê phán". Học thuyết "Triết học siêu nghiệm" (Transzendentalphilosophie) của Kant đã đưa triết học Đức bước vào một kỉ nguyên mới. "Danh tiếng của ông đã đẩy lùi những gì đi trước vào bóng tối và toả sáng lên trên những gì đi sau", như nhận xét của triết sử gia J. Hirschberger.
[vi] Ludwig Andreas Feuerbach (1804-1872) là nhà triết học người Đức. Ông là một trong những nhà triết học lớn của triết học cổ điển Đức. Mặc dù có chịu ảnh hưởng của Hegel, những tư tưởng của ông khác hoàn toàn so với Hegel. Thứ nhất, về thế giới quan, ông là nhà triết học của duy vật, còn Hegel lại theo thuyết duy tâm. Theo Feuerbach, bản chất của thế giới là vật chất, giới tự nhiên không hề phụ thuộc vào con người, nằm ngoài tầm kiểm soát của con người, không do một ai sáng tạo ra và không ai có thể tiêu diệt được. Trong khi đó Hegel lại cho rằng khởi nguồn của thế giới là một "ý niệm tuyệt đối", thần bí. Còn về phương pháp luận, Feuerbach lại theo quan điểm của siêu hình, còn Hegel lại là nhà biện chứng. Feuerbach cho rằng sự thay đổi của lịch sử loài người chỉ là sự khác nhau về tôn giáo. Ông đã tuyệt đối hóa mọi mặt sinh học của con người, không thấy mặt xã hội của con người. Còn Hegel lại bày tỏ sự phát triển của lịch sử là sự vận động không ngừng.
[vii] Tự tán dương (nghĩa đen: lời phát biểu bảo vệ bàn thờ và bếp)
[viii] Vấn đề danh dự
[ix] Moses (tiếng Latin: Moyses, tiếng Hebrew: מֹשֶׁה, Tiêu chuẩn Moshe Tiberian Mōšeh; Greek: Mωυσής; Arabic: موسىٰ, Mūsa; Ge'ez: ሙሴ, Musse), trong tiếng Việt là Mô-sê hoặc Môi-se, là lãnh tụ tôn giáo, người công bố luật pháp, nhà tiên tri, nhà chỉ huy quân sự và sử gia. Ông cũng được xem là người chép kinh Torah (năm sách đầu tiên của Kinh Thánh, còn gọi là Ngũ kinh Moses). Trong tiếng Hebrew, ông được gọi là Moshe Rabbeinu (מֹשֶׁה רַבֵּנוּ, Lit. "Moses Thầy chúng ta"). Moses cũng là một nhà tiên tri quan trọng trong Do Thái giáo,[1][2] Cơ Đốc giáo,[1] Hồi giáo,[3] Đạo Bahá'í,[4] Mormon, và Phong trào Rastafari.[1]
[x] The Wizard of Oz (Tạm dịch: Phù thủy xứ Oz) là một bộ phim Mỹ năm 1939, thuộc thể loại phim thần thoại, đạo diễn chủ yếu Victor Fleming và chuyển thể từ tiểu thuyết thiếu nhi năm 1900 The Wonderful Wizard of Oz của L. Frank Baum
[xi] Friedrich Engels (thường được phiên âm tiếng Việt là Phriđrich Ăngghen,[1] sinh ngày 28 tháng 11 năm 1820 mất ngày 5 tháng 8 năm 1895) nhà lý luận chính trị, là một triết gia và nhà khoa học người Đức thế kỷ 19, người cùng với Karl Marx đã sáng lập và phát triển chủ nghĩa cộng sản và là lãnh tụ của phong trào công nhân thế giới và Quốc tế I.[2] Ông cùng với Karl Marx và là đồng tác giả của bản Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848). Engels cũng biên tập và xuất bản quyển II và quyển III của bộ Tư bản sau khi Karl Marx mất.
[xii] Cồn thuốc phiện (Tiếng Anh: Laudanum) là một loại cồn có chứa khoảng 10% thuốc phiện bột theo trọng lượng (tương đương 1% morphine). Có màu nâu đỏ và vị rất cay đắng, cồn thuốc phiện có chứa hầu như tất cả các alkaloids, kể cả morphine và codeine, morphine và nồng độ cao của nó làm cho nó trở thành một loại ma tuý mạnh. Cồn thuốc phiện đã được lịch sử sử dụng để điều trị một loạt các bệnh, nhưng công dụng chính của nó là thuốc giảm đau và ức chế ho. Cho đến đầu thế kỷ 20, cồn thuốc phiện đã được bán mà không có một toa thuốc và là một thành phần của nhiều loại thuốc bằng sáng chế. Hôm nay, cồn thuốc phiện được công nhận là một chất gây nghiện và được quy định và kiểm soát chặt chẽ trên toàn thế giới. Từ đầu thế kỷ XVI, nhiều bác sĩ đã dùng cồn thuốc phiện như là một loại thuốc giảm đau cho đến bốn trăm năm sau khi các loại thuốc khác được dùng phổ biến. Loại cồn này được làm ra bằng cách hòa tan thuốc phiện vào trong cồn do một bác sĩ người Thụy Sĩ, Paracelcus làm ra. Tại Anh, Thomas Sydenham là người đầu tiên sử dụng loại cồn này, sau Paracelcus khoảng một thế kỷ. Vào thế kỷ XVIII và XIX, cồn thuốc phiện có thể mua tự do, vì thế nhiều bệnh nhân đã trở thành con nghiện của loại cồn này.